Nhà chồng chiếm đoạt hết tài sản sau khi chồng chết là đúng hay sai ?


Vợ chồng tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm, do tính tình không hòa hợp, nên chúng tôi đã ly thân nhiều năm nay, nhưng do vị trí công tác, lại sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con nên chúng tôi không ly hôn mà thỏa thuận yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng. Nhưng sau đó chồng tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn , sau khi chồng tôi mất toàn bộ số tài sản của chồng tôi do gia đình nhà chồng chiếm hữu sử dụng hết. Bản thân tôi không có quyền lợi gì. Xin cho biết trường hợp chồng tôi chết ko

Điều 683 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được chia di sản”. Trường hợp của bà, tuy hai vợ chồng đã chia tài sản chung nhưng vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân nên khi chồng bà chết, bà vẫn được hưởng một phần trong khối di sản mà chồng bà để lại. Nhưng do chồng bà chết không để lại di chúc nên khối di sản của chồng bà sẽ được chia thừa kế theo pháp luật và bà, cha mẹ đẻ của chồng bà và các con của bà sẽ được hưởng di sản của chồng bà. Do đó, bà có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của bà nếu gia đình nhà chồng bà đã chiếm đoạt hết tài sản.
Read »

Tôi có được phép từ chối quyền thừa kế của mình không ?

Do có mâu thuẫn với các anh tôi nên trước khi chết bố tôi có để lại toàn bộ tài sản thừa kế là một ngôi nhà trị giá 300 triệu đồng cho tôi nhưng việc thừa kế này sẽ gây ra sự chia rẽ, sứt mẻ tình cảm anh em trong nhà nên tôi không muốn nhận. Vậy tôi có thể từ chối nhận di sản thừa kế của bố tôi để lại hay không?


Khoản 1 Điều 642 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

“Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”

Pháp luật chỉ có trừ trường hợp việc từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác thì không được từ chối nhận di sản. Do đó, nếu bạn không muốn nhận toàn bộ di sản thừa kế của bố bạn thì bạn hoàn toàn có quyền từ chối nhận di sản trên.

Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế bạn phải thực hiện các thủ tục để từ chối nhận di sản. Nếu quá thời hạn này mà bạn không có từ chối nhận di sản thì bạn đương nhiên được coi là đồng ý nhận di sản thừa kế.


Việc từ chối nhận di sản sản phải được lập thành văn bản; bạn phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế, về việc từ chối nhận di sản.
Read »

Quy định của pháp luật về tội Hiếp dâm trẻ em?


Quy định của pháp luật về tội Hiếp dâm trẻ em?


Theo quy định tại Điều 111 Bộ Luật hình sự 1999 thì người có hành vi “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ” là phạm tội hiếp dâm. Người hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phạm tội Hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112, Bộ Luật hình sự 1999. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Nếu hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: Có tính chất loạn luân; Làm nạn nhân có thai; Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; Tái phạm nguy hiểm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Có tổ chức; Nhiều người hiếp một người; Phạm tội nhiều lần; Đối với nhiều người; Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Hiếp dâm trẻ em là tội đặc biệt nghiêm trọng, nên nếu người bị hại có làm đơn bãi nại, thì đây cũng không phải là tình tiết để loại trừ trách nhiệm hình sự cho kẻ phạm tội.
Read »

Lập di chúc rồi có được quyền hủy không


Trong lúc bà tôi bị bệnh nặng, bà có lập di chúc cho người cháu gái được thừa kế nhà của mình. Nhưng khi bà hết bệnh, người cháu đối xử rất lạnh nhạt và có ý muốn chiếm đoạt nhà của bà. Bà tôi có thể xin hủy bỏ di chúc đã lập được không?



Theo Điều 665 Bộ luật dân sự, bà của bạn có thể hủy bỏ, hoặc làm di chúc mới thay thế di chúc hiện có. Nếu không thể tự mình viết giấy hủy bỏ hoặc di chúc mới bà có thể nhờ người khác viết nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Bà phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của bà và ký vào bản di chúc. Bà có thể nhờ bất cứ ai làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc, người có quyền nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc, người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự. Nếu muốn bà còn có quyền yêu cầu các cơ quan công chứng hoặc UBND phường chứng nhận bản di chúc mới.
Read »

Đất chung có cần tất cả mọi người đống ý bán thì mới được bán không ?



Dòng họ bên ngoại của cháu có 12 cô chú. Ông ngoại có 1 căn nhà khá lớn. Ông đã mất từ lâu, bà thì mất cách đây 1 năm. Kể từ khi ông mất, đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đến nay chỉ còn cô út ở đấy để lo việc thờ tự. Còn người chú thứ Tư luôn gây ra tranh chấp vì cho rằng mình có công xây dựng nhà khi xưa. Đến nay đa số cô chú đồng ý quyết định bán căn nhà và chia đều số tiền bán được. Người quyết định mua nhà lại là cô Năm, vì muốn giữ lại nơi thờ cúng tổ tiên. Nhưng người chú thứ Mười lại có ý kiến rằng, nếu chỉ cần 1 người không đồng ý, thì không được quyền bán căn nhà. Vậy xin luật sư cho biết ý kiến trên có đúng hay không? Vụ việc nên giải quyết theo hướng nào là thích hợp nhất? Xin cảm ơn luật sư!




Bạn không nói rõ trong câu hỏi là ông ngoại và bà ngoại bạn có để lại di chúc không, mảnh đất trên đó có căn nhà có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

Nên luật sư đưa ra các quy định pháp luật để bạn tham khảo như sau.

1. Di sản thừa kế

Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 quy định về thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất như sau: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Do đó, nếu thửa đất trên đó có nhà đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đó là di sản thừa kế.

2. Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Khoản 2 Điều 685 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định việc phân chia di sản theo pháp luật: “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia”.

Thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản được quy định tại khoản 1 và 4 Điều 57 Luật Công chứng năm 2014 như sau: “1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác”. “4. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản”.

Các cô chú và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất tiến hành khai nhận thừa kế. Sau đó tiến hành thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tất cả các đồng thừa kế cùng ký nhận và thỏa thuận về phần di sản phân chia cho từng người. Ở đây, phải có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế kể cả chú Mười để thỏa thuận chia di sản.

Nếu hàng thừa kế không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện chia thừa kế tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết.
Read »

Nhà em bị khám xét không có giấy tớ là đúng hay sai ?



Cho em hỏi trình tự khám xét chỗ ở của công dân được quy định như thế nào? Công an nghi nhà em là có chứa hàng lậu hàng cấm, vào xét nhà mà không có giấy tờ gì cả. Xin hỏi, như thế là đúng hay sai?



Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là một trong các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định. Theo quy định tại Điều 22 của Hiến pháp thì mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; việc khám xét chỗ ở do luật định.

Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.

Việc khám chỗ ở phải tuân thủ quy định tại Điều 141, Điều 142 và Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền ra lệnh khám xét và thủ tục khám xét, cụ thể như sau:

1. Về thẩm quyền ra lệnh khám xét

Các chủ thể sau đây có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Ngoài ra, trong trường hợp không thể trì hoãn, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Về thủ tục khám xét chỗ ở

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được tiến hành theo quy định tại các điều 140, 141 và 142 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, khi bắt đầu khám chỗ ở, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.

- Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến.

- Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

- Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong.
Read »
Tôi bán 1 mảnh đất, có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất với bên mua. Hợp đồng công chứng ngày 01/5/2015, chưa đăng ký sang tên. Hiện tôi không muốn bán đất nữa thì phải làm thế nào?



Sau khi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ nội dung hợp đồng, theo các nguyên tắc quy định tại Điều 412 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp sau khi ký hợp đồng công chứng nhưng chưa đăng ký sang tên quyền sử dụng đất, nếu bạn (với tư cách là bên chuyển nhượng) không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì bạn phải trao đổi, thỏa thuận lại với bên nhận chuyển nhượng. Sẽ có hai trường hợp xảy ra như sau:

* Trường hợp thứ nhất: Bên nhận chuyển nhượng đồng ý hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã giao kết:

Nếu các bên thống nhất hủy bỏ giao dịch thì hai bên tiến hành công chứng việc hủy bỏ hợp đồng. Thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 51 Luật công chứng:

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

- Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này.

Như vậy, nếu bạn không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì bạn và bên nhận chuyển nhượng phải tới tổ chức hành nghề công chứng (nơi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng) để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã ký.

* Trường hợp thứ hai: Bên nhận chuyển nhượng không đồng ý hủy bỏ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên không nhất được việc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết:

Như trên đã nêu, sau khi đã giao kết hợp đồng, các bên đều có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hơn nữa, Điều 5 Luật công chứng đã quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”. Do đó, bạn và bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ thi hành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng; trong trường hợp bạn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đó thì bên nhận chuyển nhượng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, cũng theo quy định nêu trên, hợp đồng công chứng có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu khi có đầy đủ các căn cứ quy định của pháp luật. Căn cứ để tòa án tuyên bố hợp hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Bộ luật Dân sự, gồm các trường hợp như sau:

- Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu (Điều 127 Bộ luật Dân sự).

+ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

+ Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128 Bộ luật Dân sự).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật Dân sự).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 Bộ luật Dân sự).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 Bộ luật Dân sự)

-Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134 Bộ luật Dân sự)

Vậy, nếu vi phạm một trong một các quy định nêu trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu. Nếu có căn cứ cho rằng hợp đồng giữa bạn và bên nhận chuyển nhượng vi phạm các quy định đó thì bạn có thể gửi đơn khởi kiện để tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự:

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

- Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
Read »

Tư vấn về giấy tớ đăng ký kết hôn

Tôi thường trú lại Quận Tân Phú TPHCM, vợ tôi thường trú tại Đắk Lắk. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sống tại Quận Tân Phú TPHCM. Để làm thủ tục đăng ký kết hôn, vợ tôi có nhờ người nhà ra UBND xã làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng bên UBND xã lại nói tôi phải xác nhận tình trạng hôn nhân ở TPHCM rồi mới về Đắk Lắk đăng ký kết hôn. Vậy tôi phải làm thế nào cho đúng?


Theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình, chứng thực) thì thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện như sau:

- Về thẩm quyền đăng ký kết hôn: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

- Về hồ sơ: Hai bên nam, nữ nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân; nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng.

Trường hợp của bạn, do các thông tin mà bạn cung cấp không rõ nên tôi xin nêu ra hai trường hợp để bạn tham khảo:

Trường hợp 1: Nếu như hai bạn đăng ký kết hôn tại Đắk lắk thì bạn cần phải xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của mình tại Ủy ban nhân dân phường, nơi bạn đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh để gửi Ủy ban nhân dân xã, nơi vợ bạn đăng ký hộ khẩu tại Đắk Lắk để tiến hành đăng ký kết hôn.

Trường hợp 2: Nếu hai bạn đăng ký kết hôn tại Thành phố Hồ Chí Minh thì vợ bạn cần phải xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của mình tại Ủy ban nhân dân xã, nơi vợ bạn đăng ký hộ khẩu thường trú để gửi Ủy ban nhân dân phường, nơi bạn đăng ký hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành đăng ký kết hôn.

Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 67 Nghị định số 158 (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 06). Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ có trách nhiệm cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 03 ngày.



Read »

Bị bố bỏ rơi cháu có đòi được tiền phụ cấp không ?

Gia đình cháu có tất cả 4 người: bố mẹ, cháu và chị gái cháu. Bố cháu bỏ đi vào nam lập nghiệp và lấy vợ mới nhưng từ lúc đi tới lúc cháu tròn 18 tuổi không nuôi dưỡng và không phụ cấp nuôi dưỡng cháu. Vậy cháu muốn hỏi bố cháu làm vậy có sai không? Cháu muốn đòi số tiền phụ cấp trong khoảng thời gian này có được không?


Theo nội dung bạn trình bày thì bố bạn vào nam làm việc và lấy vợ mới trong đó. Như vậy, trong trường hợp quan hệ hôn nhân với mẹ bạn là hợp pháp thì về mặt pháp lý, quan hệ giữa bố bạn với người vợ mới sẽ không được pháp luật công nhận (khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định cấm người đang có vợ, chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác). Do đó, hành vi của bố bạn là vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng.

Về yêu cầu đòi tiền phụ cấp cho khoảng thời gian bố bạn đi cho tới khi bạn tròn 18 tuổi. Mặc dù đây là nghĩa vụ của cha đối với con (được quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình 2014, theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên) nhưng việc yêu cầu chu cấp một khoản tiền nhất định để nuôi con chỉ được pháp luật đặt ra như là trách nhiệm bắt buộc của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, theo nội dung bạn trình bày thì bố bạn đã có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật này và Điều 3 Nghị định số 71/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì hành vi cha, mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ gồm:

1. Sau khi sinh con, cha, mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng.

2. Cha, mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi hoặc bị buộc phải cách ly trẻ em theo quy định của pháp luật.

3. Cha, mẹ, người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng, bỏ mặc hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.

Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 17 Nghị định nêu trên, Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con là trẻ em nếu cha, mẹ có hành vi vi phạm quyền trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm.
Read »

Việt kiều nhờ người khác đứng tên sở hữu nhà, phát sinh tranh chấp xử lý như thế nào?


"Nay tôi về VN, yêu cầu họ trả nhà và tiền cho tôi thì họ làm khó dễ. Tôi có nhờ chính quyền địa phương can thiệp thì họ thừa nhận nhà mua và giữ giùm tôi, song buộc tôi phải cho tiền họ mới đi. Tôi không đồng ý và phải nhờ tòa án giải quyết. Xin hỏi tôi có lấy lại được tài sản của tôi không và nếu được, tôi có được đứng tên chủ quyền nhà của tôi?" V.H.H. (Long Phú, Sóc Trăng)




Việc ông đưa tiền cho người bà con để nhờ mua giùm nhà và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, khi ông là Việt kiều chưa đủ điều kiện để mua nhà và đứng tên sở hữu nhà tại VN theo qui định, là giao dịch không phù hợp pháp luật. Về nguyên tắc, giao dịch này là vô hiệu. Tuy nhiên, việc xét xử của tòa án sẽ tùy từng trường hợp cụ thể.

Nếu hiện nay ông là Việt kiều vẫn chưa đủ điều kiện mua nhà tại VN, tòa án có thể tuyên giao dịch dân sự nêu trên vô hiệu toàn bộ, khi đó các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận - tức người bà con sẽ trả lại ông số tiền đã trao để mua nhà giùm trước đây và nhận căn nhà, nếu không có tiền trả thì căn nhà sẽ được bán để trả lại tiền cho ông.

Trường hợp ông là Việt kiều đã đủ điều kiện mua nhà, tòa án có thể tuyên giao dịch trên vô hiệu một phần, theo đó ông vẫn được chấp nhận là chủ sở hữu nhà đã mua trên thực tế và được làm thủ tục chuyển tên sở hữu căn nhà từ người bà con sang tên ông.

Việt kiều đủ điều kiện mua nhà thuộc các trường hợp sau: (a) về đầu tư lâu dài ở VN, người có công đóng góp với đất nước, (b) nhà hoạt động văn hóa, khoa học về hoạt động thường xuyên tại VN, (c) người được phép về sống ổn định ở VN; nếu không thuộc các diện trên đây nhưng về VN cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên thì được sở hữu một nhà ở/căn hộ tại VN.

- (2) Đối với quan hệ cho vay mượn tiền giữa ông và người bà con là giao dịch bình thường theo quy định pháp luật dân sự. Nếu người bà con không trả tiền cho ông, ông có quyền khởi kiện ra tòa án để đòi số tiền trên. Giấy tờ nhận tiền sẽ là bằng chứng về việc cho mượn tiền của ông.
Read »

Tư vấn về tranh chấp đất đai

Tôi có vấn đề nhờ các bạn giải đáp giùm tôi. Nội dung như sau:
Vào năm 1997 Anh em tôi có mua một mảnh đất nông nghiệp (Có giấy xác nhận của xã) đứng tên tôi. Nhưng sau đó vì không có hộ khẩu tại địa phương nên tôi đã để em vợ tôi đứng tên làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vào năm 2008, anh em tôi đã bán cho ông Lê Văn Hùng mảnh đất nói trên (Chỉ có giấy thoả thuận mua bán giữa hai bên, không có xác nhận chính quyền địa phương) nhưng ông Hùng không trả tiền theo thoả thuận và đã kéo dài 3 năm. Trong 3 năm đó ông Hùng đã tự toàn quyền chiếm dụng, khai phá bất hợp pháp trên mảnh đất của anh em tôi.
Vì điều kiện gia đình, em vợ tôi đã về quê và uỷ quyền cho tôi toàn quyền mua bán sử dụng với ông Hùng. Nhưng đến nay ông Hùng vẫn chưa thanh toán cho gia đình chúng tôi. Vậy tôi có đủ tư cách pháp lý để kiện ông Hùng hay không?
Và nếu được kiện thì thủ tục pháp lý như thế nào? Gửi cho cơ quan nào?
Xin quý cơ quan chỉ giùm cho tôi đòi lại lợi ích hợp pháp của mình!


Về vấn đề của anh, chúng tôi tư vấn như sau :
1. Đối với hợp đồng mua bán giữa anh em anh và ông Lê Văn Hùng do chưa được công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hợp đồng giữa hai bên không có giá trị pháp lí, mảnh đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của gia đình anh. Như vậy, anh có đủ tư cách pháp lí để kiện đòi ông Lê Văn Hùng trả lại đất
2. Những giấy tờ cần chuẩn bị :
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
3. Cơ quan có thẩm quyền xử lí :
- Gửi đơn kiện lên UBND xã, phường nơi có mảnh đất đó để tiến hành hòa giải
- Nếu hòa giải không thành thì làm đơn khởi kiện lên Tòa án
Read »

Con riêng có được quyền thừa kế không


Người chồng có một đứa con riêng cùng sống với gia đình. Khi chết, người chồng không để lại di chúc. Vậy con riêng của người chồng có được hưởng gì từ căn nhà của vợ chồng người đã mất?



Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho - tặng chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Khi ngươì chồng chết thì căn nhà (tài sản chung của hai vợ chồng), theo quy định được chia làm hai phần khi chia di sản thưà kế, một phần thuộc quyền sở hữu sử dụng của người chồng, phần còn lại thuộc quyền sử dụng của người vợ. Phần của ngươì chồng được đem chia cho những ngươì thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất, gồm: ông, bà, cha, mẹ đẻ của chồng (nếu còn sống), con rêing của chồng, con đẻ của người vợ với người chồng mỗi ngươì một phần ngang nhau theo điêu 678, 679 Bộ Luật Dân sự. Như vậy, khi phân chia di sản của người chồng, người con riêng sẽ được hưởng một phần ngang với các đối tượng khác cùng hàng thừa kế.
Read »

Xây dựng nhà ở không đúng với giấy phép được cấp, lấn chiếm khoảng không của các hộ liền kề

Ngôi nhà số 37, phố X, phường B, thành phố Lạng Sơn là một ngôi nhà 02 tầng xây kiểu cũ có chiều rộng khuôn viên là 6m, chiều dài 17m, mái lợp ngói có dấu hiệu xuống cấp do sử dụng đã lâu; mặt tiền ngôi nhà là mặt phố, sát bên trái ngôi nhà là ngõ dân sinh có chiều rộng 1,8m của một số hộ dân sống trong ngõ phía sau ngôi nhà. Tháng 02/2005, ông Nguyễn Văn Thắng, chủ sở hữu ngôi nhà đã gửi hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật xin phép chính quyền phường sở tại và UBND thành phố Lạng Sơn cho phá dỡ nhà cũ để xây dựng mới một ngôi nhà 03 tầng theo kiến trúc hiện đại. Tháng 3/2005, UBND thành phố Lạng Sơn đã cấp giấy phép xây dựng nhà cho ông Thắng. Sau khi có giấy phép, ông Thắng bắt tay vào thi công xây dựng ngôi nhà. Căn nhà được xây thô đến tầng 3 thì bắt đầu phát sinh khiếu kiện của các hộ dân trong ngõ kế bên ngôi nhà vì ông Thắng đã tự ý đổ bê tông ban công của tầng 2 và tầng 3 chạy dài theo chiều ngõ 10m, đồng thời mở cửa sổ và cửa ra vào ban công để sử dụng phần diện tích ban công lấn chiếm khoảng không gian của ngõ. Phần ban công lấn chiếm và sử dụng khoảng không gian này không có trong thiết kế trình xin giấy phép xây dựng. Vì vậy, các hộ dân trong ngõ đã làm đơn tập thể gửi đến UBND phường B và UBND thành phố Lạng Sơn yêu cầu xử lý hành vi vi phạm của ông Thắng, dỡ bỏ phần ban công lấn chiếm khoảng không, khôi phục lại hiện trạng ban đầu của ngõ. Cán bộ phụ trách xây dựng của phường cần tham mưu cho Chủ tịch phường xử lý tình huống này như thế nào?

Việc phá dỡ nhà cũ để xây nhà mới của ông Thắng là đúng pháp luật vì ông Thắng đã có đơn kèm theo hồ sơ xin phép xây dựng và được UBND thành phố Lạng Sơn cấp Giấy phép xây dựng theo đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, việc ông Thắng tự ý đổ bê tông ban công tầng 2, tầng 3 và mở cửa sổ, cửa ra vào ban công của ngôi nhà không theo thiết kế được duyệt, lấn chiếm khoảng không của ngõ là vi phạm pháp luật về xây dựng và đất đai. Điểm d khoản 2 Điều 68 Luật Xây dựng năm 2003 quy định, người xin cấp giấy phép xây dựng có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung của giấy phép xây dựng; khi có sự điều chỉnh, thay đổi thiết kế phải được sự chấp nhận của cơ quan cấp giấy phép xây dựng. ở đây, ông Thắng đã không thực hiện đúng nội dung của giấy phép được cấp, có phần ban công được xây lấn ra khoảng không của ngõ liền kề. Mặt khác, việc ông Thắng lấn chiếm khoảng không gian của ngõ liền kề là vi phạm quyền sử dụng đất của các hộ dân trong ngõ, vì ngõ là lối đi chung của các hộ dân này; do đó, nếu họ không đồng ý thì ông Thắng không được lấn chiếm diện tích ngõ cũng như khoảng không gian thuộc phần diện tích ngõ tính theo chiều thẳng đứng từ mặt đất chiếu lên. Vì vậy, những đòi hỏi trong đơn khiếu kiện của tập thể các hộ dân trong ngõ là có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Thẩm quyền xử lý vi phạm thuộc về UBND phường B theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002, Điều 8 và Điều 43 Nghị định số 126/2004/NĐ-CP. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ đầu tư tổ chức xây dựng bộ phận công trình, công trình mới; cải tạo, mở rộng, sửa chữa công trình sai thiết kế được duyệt; ngoài ra, chủ đầu tư vi phạm còn bị buộc thực hiện đúng thiết kế xây dựng được duyệt.

Theo đó, Chủ tịch UBND phường B cần tiến hành các công việc sau:

- Sau khi nhận đơn khiếu nại của các hộ dân, cán bộ phụ trách xây dựng của phường B báo cáo Chủ tịch UBND phường về việc thành lập tổ kiểm tra để kiểm tra việc xây dựng nhà của ông Thắng.

- Lập biên bản vi phạm trong thi công xây dựng nhà của ông Thắng với lý do xây nhà không đúng với nội dung giấy phép được cấp và mời ông Thắng ra UBND phường giải quyết.

- Chủ tịch UBND phường B phân tích phần sai phạm trong việc xây nhà của ông Thắng như đã nêu trên; ra quyết định phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng theo thẩm quyền như đã nêu ở phần phân tích tình huống. Yêu cầu ông Thắng tự phá dỡ phần ban công xây lấn ra khoảng không gian của ngõ liền kề, khôi phục lại tình trạng ban đầu của ngõ và xây dựng theo đúng thiết kế đã được phê duyệt. Nếu ông Thắng không tự phá dỡ phần ban công xây lấn thì sẽ bị cưỡng chế phá bỏ phần xây dựng sai phạm này.
Read »

Công an được quyền giữ xe thế nào?

Tôi đi xe gắn máy lưu thông trên đường thì bị xe gắn máy khác tông từ phía sau, Công an giữ 2 chiếc xe (của tôi và của người gây tai nạn) đã 7 ngày. Người ấy đi viện chưa ra được mà tôi không có xe đi làm.


Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA về quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộĐiều 10. Tạm giữ phương tiện giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan.

1. Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:

a) Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùng với hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền;

c) Trường hợp tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì phương tiện giao thông bị tạm giữ được xử lý như sau:

- Đối với vụ tai nạn sau khi khám nghiệm phương tiện xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi thì phương tiện phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện;
- Các trường hợp khác việc tạm giữ phương tiện phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

Luật xử lý vi phạm hành chính tại Điều 125. Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính.

8. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Nếu bạn không có lỗi thì phương tiện được trả ngay cho bạn sau khi khám phương tiện xong.
Read »

Thế nào là phòng vệ chính đáng?

Thế nào là phòng vệ chính đáng?


Theo điều 15 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

* Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

* Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Read »

Bán dâm có phải là tội không ?


Chị Nguyễn Thị H sống độc thân, do thiếu hiểu biết, chị đã cho một gái bán dâm ở trong nhà chị và thực hiện hành vi mua bán dâm với nhiều người trong nhiều lần khác nhau, xin hỏi trường hợp của chị có phải là phạm tội nhiều lần không?



Theo hướng dẫn tại mục 4, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” đối với người chứa mại dâm thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn);

b) Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian;

c) Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau.
Trường hợp của chị Nguyễn Thị H nêu trên vi phạm điểm c “Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau” được coi là “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm c, khoản 2 điều 254 của Bộ luật hình sự.
Read »

Thời gian hưởng án treo nghĩa là như nào ?


Vào năm 2005, anh tôi bị tạm giữ tại công an huyện về hành vi “Cố ý gây thương tích”, thời gian tạm giam là 12 tháng, khi Toà án đưa ra xét xử và tuyên cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 21 tháng được tính từ ngày tuyên án. Xin cho biết: Thời gian xoá án được tính từ thời điểm nào? Có được quy đổi thời gian tạm giam để trừ vào thời gian thử thách của án treo hay không? Việc xóa án tích phải xin phép cơ quan nào?


Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 đến 5 năm... Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới” (Điều 60 - Bộ luật Hình sự).

Trường hợp anh của bạn đã bị tạm giam trước đây là 18 tháng và khi tuyên án, tòa án cho hưởng án treo; thời gian tạm giam trước đây của anh bạn sẽ được ghi nhớ để Tòa án tổng hợp hình phạt nếu như anh của bạn có phạm tội mới, còn nếu không thì thôi, chứ không có qui đổi trong trường hợp này. Anh của bạn sẽ được đương nhiên xóa án tích sau một năm kể từ khi hết thời hạn thử thách.

Nếu có nhu cầu, sau một năm khi hết thời gian thử thách, anh của bạn có thể đến Tòa án đã xử án sơ thẩm để đề nghị Chánh án cấp giấy chứng nhận xoá án tích.
Read »

Giết con đẻ có bị đi tù không


Con gái tôi chưa kết hôn nhưng đã có thai và sinh con, do còn đang là sinh viên không có đủ khả năng nuôi con cùng với việc lo sợ dư luận xã hội nên đã đem đứa trẻ để trước cổng trạm y tế phường vào lúc trời rạng sáng mong có người nhìn thấy em bé thương tình mang về nhà nuôi, nhưng do trời quá lạnh nên đứa trẻ bị chết. Tôi xin hỏi trong trường hợp này con gái tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không ? Nếu phải chịu trách nhiệm hình sự thì có bị tù giam không ?




Bộ luật Hình sự 1999 có qui định tại Điều 94 về tội giết con mới đẻ như sau: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

Theo qui định trên thì con gái bạn đã có hành vi vứt bỏ đưa trẻ dưới trời lạnh, làm cho đưa trẻ bị chết. Hành vi đó đã cấu thành tội Giết con mới đẻ và người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khi xét xử, Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt với con bạn.

Mức hình phạt sẽ phụ thuộc rất nhiều vào thái độ khai báo của người phạm tội, sự ăn năn hối cải cũng như các yếu tố nói trên
Read »

Ngành nghề yêu cầu vốn pháp định

Tôi đang muốn tìm hiểu thủ tục thành lập công ty và không hiểu Những ngành nghề kinh doanh yêu cầu vốn pháp định


I. Tổ chức tín dụng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)

1. Ngân hàng thương mại cổ phần: 1000 tỷ đồng

2. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD

II. Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)

1. Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 1000 tỷ đồng

2. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0.1 tỷ đồng

III. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)

1. Công ty tài chính: 300 tỷ đồng

2. Công ty cho thuê tài chính: 100 tỷ đồng

IV. Kinh doanh bất động sản: 6 tỷ đồng (Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007)

V. Dịch vụ đòi nợ: 2 tỷ đồng (Điều 13 NĐ 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007)

VI. Dịch vụ bảo vệ: 2 tỷ đồng (không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài Dịch vụ bảo vệ) (NĐ 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008)

VII. Dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: 5 tỷ đồng (Điều 3 NĐ 126/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007)

VIII. Sản xuất phim: Doanh nghiệp phải có GCN đủ điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi ĐKKD (Điều 14 Luật điện ảnh)
Read »

Ngành nghề kinh doanh cần chứng chỉ gì ?

Theo quy định hiện nay thì những Ngành nghề kinh doanh yêu cầu có chứng chỉ hành nghề ?

1/ Kinh doanh dịch vụ pháp lý

2/ Kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm

3/ Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y

4/ Kinh doanh dịch vụ thiết kế quy họach xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng.

5/ Kinh doanh dịch vụ kiểm toán

6/ Sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, mua bán thuốc bảo vệ thực vật

7/ Kinh doanh dịch vụ xông hơi khử trùng.

8/ Kinh doanh dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải

9/ Mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

10/ Kinh doanh dịch vụ kế toán

11/ Dịch vụ môi giới bất động sản;

Dịch vụ định giá bất động sản;

Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản.
Read »

Thất lạc Giấy đăng ký kinh doanh

Doanh nghiệp tôi sau khi chuyển trụ sở thì bị thất lạc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hiện tại Để được cấp lại đăng ký kinh doanh doanh nghiệp tôi cần phải làm những thủ tục gì?


Nghị định 43/2010/NĐ-CP của Chính Phủ quy định : Cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong trường hợp mất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

a) Khi mất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan công an nơi mất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ba lần liên tiếp.

b) Sau 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo, nếu doanh nghiệp không tìm được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã mất thì đề nghị Phòng Đăng ký kinh doanh nơi đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hồ sơ đề nghị cấp lại gồm:

- Giấy đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

- Xác nhận của cơ quan công an về việc khai báo mất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp;

- Giấy tờ của cơ quan báo, đài về việc nhận đăng thông báo mất Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tờ báo đã đăng thông báo này.
Read »

Thu hồi đăng ký kinh doanh

Xin cho tôi biết Doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong trường hợp nào?




Khoản 2 điều 165 Luật doanh nghiệp quy định:

“Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo;

b) Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 13 của Luật này thành lập;

c) Không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

d) Không hoạt động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính;

đ) Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong mười hai tháng liên tục;

e) Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh;

g) Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 163 của Luật này đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản;

h) Kinh doanh ngành, nghề bị cấm.

Hậu quả pháp lý của việc thu hồi GCN ĐKKD là Doanh nghiệp ngừng hoạt động, chấm dứt mọi hanh vi kinh doanh của Doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước và nước ngoài.

Sau khi nhận được Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện giải thể theo quy định tại Điều 158 của Luật Doanh nghiệp. Sau 6 (sáu) tháng, kể từ ngày quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà không nhận được hồ sơ giải thể doanh nghiệp, thì doanh nghiệp coi như đã được giải thể và Phòng Đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong Sổ đăng ký kinh doanh. Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật, tất cả thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, tất cả thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán.
Read »

Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam?

Chúng tôi đang hợp tác với một đơn vị nước ngoài. Xin công ty cho biếtNhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam hay không?

Trường hợp (i): nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; Theo đó, không làm thay đổi pháp nhân, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo thủ tục quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP;

Trường hợp (ii): nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; theo đó thay đổi chủ sở hữu ;doanh nghiệp Việt Nam đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan;

Nhà đầu tư nước ngoài báo cáo Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại 43/2010/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài.

Trường hợp (iii): nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP tại Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định của Nghị định này./.
Read »

Xử lý hành vi vi phạm an toàn lao động gây hậu quả chết người

Người nước ngoài vi phạm các quy định về an toàn lao động gây hậu quả chết người nhưng không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm các quy định về an toàn lao động thì căn cứ vào Nghị định nào để xử phạt và thẩm quyền ra quyết định xử phạt.



Tại điều 227, Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) có quy định như sau:

Điều 227. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người

"1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo như bạn trình bày thì Người nước ngoài vi phạm các quy định về an toàn lao động gây hậu quả chết người nên không thể nào chỉ bị xử lý hành chính mà sẽ bị xử lý cụ thể theo quy định tại điều này nên không đặt ra vấn đề bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm các quy định về an toàn lao động đối với người nước ngoài trong trường hợp này.
Read »

Trường hợp nào được dự thi tuyển công chức ?

Khoảng tháng 8/2015 có đợt tuyển công chức nhưng hiện tại em phát hiện mình có thai được 2 tuần. Cho em hỏi như vậy em có được thi tuyển công chức không? em tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, nếu được đi dạy thì thời gian thực tập bao lâu? luật cán bộ công chức quy định thế nào? em cám ơn!


Thứ nhất, căn cứ Điều 36 Luật cán bộ,công chức 2008 quy định về điều kiện đăng tuyển dụng công chức như sau:

Điều 36. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

1. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:

a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

b) Đủ 18 tuổi trở lên;

c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;

d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;

đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;

g) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.

2. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:

a) Không cư trú tại Việt Nam;

b) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.

Căn cứ vào quy định pháp luật như trên thì trường hợp của bạn hiện đang mang thai không nằm vào đối tượng không được phép thi tuyển nên bạn vẫn có quyền đăng kí thăm gia thi tuyển vào đợt tuyển này.

Thứ hai, về thời gian tập sự đối với công chức quy định tại Điều 20 Nghị định 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức như sau:

" 2. Thời gian tập sự được quy định như sau:

a) 12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức loại C;

b) 06 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức loại D;

c) Người được tuyển dụng vào công chức dự bị trước ngày 01 tháng 01 năm 2010 theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức thì chuyển sang thực hiện chế độ tập sự. Thời gian đã thực hiện chế độ công chức dự bị được tính vào thời gian tập sự;

d) Thời gian nghỉ sinh con theo chế độ bảo hiểm xã hội và thời gian nghỉ ốm đau, bị tạm giam, tạm giữ, tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật không được tính vào thời gian tập sự".

Cụ thể trong trường hợp của bạn thì thời gian bạn nghỉ sinh con không được tính vào thời gian tập sự, mà sau khi nghỉ chế độ thai sản thì sẽ tiến hành tập sự số thời gian còn lại của đợt tập sự.
Read »

Quy định về xét tuyển không qua thi công chức

Tôi tốt nghiệp Đại học kiến trúc hà nội 2004, năm 2007 tôi lập Công ty và tôi là giám đốc, sau đó tôi nghỉ và bàn giao Công ty cho người khác. Trong thời gian này tôi không đóng bảo hiểm xã hội (Do nhiều nguyên nhân).


-Đến 2/2014 tới nay 8/2015 tôi vào làm hợp đồng trong Phòng Công thương một huyện, có đóng bảo hiểm từ 2/2014 tới 8/2015.

- Đến tháng 9/2015, UBND tỉnh có thông báo kế hoạch thi tuyển công chức, trong đó có đoạn mục 6, phần b:

"Người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau…”

Tôi xin hỏi, trong trường hợp này tôi có năm trong diện tiếp nhận đặc biệt trong tuyển dụng công chức không ạ. Tôi có gửi kèm theo văn bản của UBND tỉnh.
Xin chân thành cám ơn.




Điều 10 – Thông tư 13/2010/TT-BNV. Tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức

1. Điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển:

a) Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước và người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau:

- Bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Điều 1 Thông tư này;

- Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tốt nghiệp thủ khoa ở trình độ đại học tại các cơ sở đào tạo ở trong nước hoặc tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài; trường hợp sau khi tốt nghiệp đã có thời gian công tác thì trong thời gian công tác này không vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc xác định tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài được căn cứ vào xếp loại tại bằng tốt nghiệp; trường hợp bằng tốt nghiệp không xếp loại thì cơ quan quản lý công chức báo cáo cụ thể kết quả học tập toàn khóa và kết quả bảo vệ tốt nghiệp để Bộ Nội vụ hoặc Ban Tổ chức Trung ương xem xét, quyết định theo thẩm quyền quản lý công chức.

b) Người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau:

- Bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Điều 1 Thông tư này;

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; hiện đang công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển; có thời hạn từ đủ 60 tháng trở lên làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển (không kể thời gian tập sự, thử việc và nếu có thời gian công tác không liên tục thì được cộng dồn); trong thời gian công tác 05 năm gần nhất không vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.

Điều 19 – Nghị định 24/2010/NĐ-CP. Trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng

1. Căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức và yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau:

c) Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng.

Ở đây bạn không nói rõ là sau khi lập công ty năm 2007, sau đó bạn chuyển giao công ty vào thời điểm nào nên tôi chia ra hai trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu sau khi lập công ty bạn bàn giao luôn cho người khác vào năm 2007, thì thời gian làm việc của bạn chỉ tính từ tháng 2/2014 đến tháng 8/2015 khi làm việc tại phòng Công thương huyện. Do chưa đủ thời gian theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 19 Nghị định 24/2010/NĐ-CP là 05 năm công tác ttrong nghành nên bạn sẽ không được tiếp nhận không qua thi tuyển, mà bạn sẽ phải đăng ký dự thi công chức theo pháp luật quy định.

Trường hợp 2: Nếu sau khi lập công ty bạn vẫn tiếp tục làm việc với vị trí giám đốc cho từ năm 2007 đến đủ 5 năm sau hoặc từ năm 2007 đến 3 năm 6 tháng sau ( sẽ được cộng dồn với 1.5 năm bạn làm việc ở phòng công thương nếu công việc giống nhau nằm trong ngành, lĩnh vực cần tuyển) thì bạn sẽ đủ điều kiện xét tuyển không thi công chức.
Read »

Tư vấn về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

N và nhóm bạn của mình rủ nhau ra sông thi bơi, lặn đã vô ý làm tấm lưới quây cá nhà bà T bị hở, do đó một số cá nhà bà T nuôi đã bơi ra ngoài. Vậy Bộ luật dân sự quy định việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này như thế nào?



Điều 616 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

Như vậy, N và nhóm bạn của mình đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà T tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người. Nếu không xác định được mức độ lỗi của mỗi người thì từng người phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Read »

Quyền xử phạt vi phạm hành chính của cảnh sát trật tự

Sáng nay em có đi ngược trong đường có biển cấm và bị Cảnh sát trật tự ra hiệu lệnh dừng xe. Sau đó lập biên bản xử lý vi phạm hành chính em. Xin hỏi quý luật sư việc cảnh sát trật tự ra hiêu lệnh dừng xe như vậy trong khi không có lực lượng CSGT đi theo thì có đúng quy định pháp luật về xử lí vi phạm giao thông đường bộ không.


Theo quy định tại Điều 87, Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định trong trường hợp cần thiết sẽ huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với CSGT đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ.

Như vậy, ngoài CSGT thì các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã cũng có thẩm quyền dừng phương tiện đang lưu thông để kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ nhưng phải thực hiện theo đúng kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 4 Thông tư 47/2011/TT-BCA của Bộ Công an quy định các lực lượng được huy động gồm có:

“1. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội (QLHC về TTATXH), Công an phụ trách xã, Công an phường (gọi chung là Cảnh sát khác).

2. Công an xã, Công an thị trấn nơi chưa bố trí tổ chức Công an chính quy (gọi chung là Công an xã).”

Theo điểm b, khoản 2, Điều 9, Nghị định số 27/2010/NĐ-CP quy định:

“b) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền khi tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có Cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng;”.

Như vậy, có 2 trường hợp xảy ra:

Trường hợp thứ nhất, nếu như anh cảnh sát đó không được huy động để làm nhiệm vụ phối hợp với cảnh sát giao thông thì hành vi của anh cảnh sát đó là sai quy định của pháp luật.

Trường hợp thứ hai, của bạn mà anh cảnh sát đang được huy động để phối hợp với CSGT đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì anh cảnh sát có quyền ra hiệu lệnh dừng xe và xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của anh khi không có cảnh sát giao thông ở đó.
Read »

Di chúc miệng được coi là hợp pháp khi nào?

Mẹ tôi trước khi mất có dặn dò lại việc chia tài sản cho các con trước mặt nhiều người hàng xóm. Xin cho biết việc di chúc bằng lời như thế có được coi là hợp pháp không?


Theo quy định tại khoản 5 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 thì di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.


Như vậy, nếu mẹ bạn dặn dò lại việc chia tài sản cho các con trước mặt nhiều người hàng xóm trong lúc còn minh mẫn, sáng suốt và ngay sau đó những người làm chứng đã ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và đưa đi công chứng hoặc chứng thực trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày mẹ bạn dặn dò lại việc chia di sản cho các con thì việc dặn dò đó được coi là hợp pháp.
Read »

Tư vấn về chia tài sản hình thành trước hôn nhân


Trước khi kết hôn tôi và vợ tôi có đứng tên mua chung một miếng đất vào năm 2006: Vợ tôi bỏ ra 59 triệu, tôi bỏ ra 91 triệu.

Sau đó năm 2007 chúng tôi xây nhà chủ yếu bằng tiền của tôi làm ăn kinh doanh mà có, Có vay nợ như bố mẹ của vợ 40triệu, bố mẹ đẻ tôi 80 triệu , vay công ty tôi 50 triệu còn lại là tiền của tôi.

- Tháng 2/2008 chúng tôi làm đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn, đến tháng 8 năm 2008 mới đăng ký kết hôn.

- Tôi làm hộ khẩu năm 2008 sau đó mới chuyển vợ tôi vào hộ khẩu, tên chủ hộ là tôi.

- Như vậy khi ly hôn tài sản nhà và đất có được coi là tài sản chung hay không ? Vì khi xây nhà các giấy tờ hóa đơn mất gần hết, tiền làm nhà do tôi đứng ra chi trả và sau khi làm nhà các khoản nợ đều do tôi đứng ra trả.

Cần các loại giấy tờ gì để chứng minh đó không phải là tài sản chung ?







Căn cứ vào Điều 33 và Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình có quy định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng như sau:

“ Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng


1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.


Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng


1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Theo đó, quyền sử dụng đất được mua trước năm 2008, vợ và chồng cùng đứng tên mua thì được coi là tài sản riêng của mỗi người. Về phần ngôi nhà được xây dựng trước khi kết hôn bằng tiền của riêng anh và do anh vay mượn, đứng tên trả nợ thì ngôi nhà đó là tài sản riêng của anh (trừ khi hai vợ chồng thỏa thuận tài sản đó được nhập vào khối tài sản chung).

Để chứng minh ngôi nhà là tài sản riêng của anh thì anh có thể tìm đến nơi anh đã từng thanh toán vật liệu, thiết bị xây nhà để làm giấy tờ xác nhận anh đã thanh toán toàn bộ chi phí xây nhà trong thời gian trước hôn nhân, giấy phép xây dựng được cấp trước khi xây dựng nhà ở (nếu anh rơi vào trường hợp phải xin giấy phép xây dựng), những giấy tờ có liên quan đến giao dịch bằng tài sản là ngôi nhà vào thời điểm trước hôn nhân hoặc chứng minh khả năng tài chính của mình so với khả năng tài chính của vợ.

Còn việc anh làm hộ khẩu năm 2008 sau đó mới chuyển vợ vào hộ khẩu, tên chủ hộ là anh thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc chia tài sản khi ly hôn.
Read »

Lãi suất cho vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi

Kính gửi các anh chị. Tháng 8/2014 Vì công việc em có vay của 1 anh bạn 50 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 10 ngày trả 60 triệu. Sau 10 ngày em mới có 30 triệu trả và xin khất anh ấy thu xếp trả sớm. Và sau 20 ngày anh ấy nói số tiền của em vay cả lãi lên đến 70 triệu và bắt em ký giấy vay 70 triệu của một người khác. Người này nói 10 ngày trả lãi 1 lần và mỗi lần họ đòi 21 triệu tiền lãi, đề nghị tư vấn giúp em, nếu em khởi kiện thì kiện ở đâu, thủ tục như thế nào.



Theo bạn trình bày thì bạn có vay 50 triệu, 10 ngày tính lãi 10 triệu và sau 10 ngày phải trả tất cả 60 triệu, tức là 1 ngày bạn phải trả tiền lãi là 1 triệu đồng tức một tháng trả 30 triệu đồng tiền lãi.

Như vậy, lãi suất cho vay ở đây là 60%/tháng là quá cao so với quy định của pháp luật.

Lãi suất cơ bản do nhà nước quy định tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm tức bằng 0,75%/ tháng.

Theo Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Như vậy lãi suất cho vay các bên có thể thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của nhà nước quy định. Tức là các bên chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 1,125%/tháng. Trường hợp các bên thỏa thuận mức cho vay vượt quá mức lãi suất mà pháp luật cho phép thì khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật chỉ bảo vệ phần lãi suất cho vay trong phạm vi pháp luật cho phép (tức bạn chỉ phải trả lãi suất là 1,125%/tháng).

Ngoài ra, trường hợp của bạn, lãi suất bạn phải trả là 60%/tháng gấp 53,3 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Người cho bạn vay đã có dấu hiệu cho vay nặng lãi theo quy định tại điều 163 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định về tội cho vay nặng lãi như sau:

“1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy trường hợp của bạn là người cho vay đã vi phạm quy định pháp luật hình sự về tội cho vay nặng lãi, mức lãi suất gấp hơn 50 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Trường hợp này, bạn có thể làm đơn trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết.


Read »

Làm gì khi bị vu khống trên mạng Facebook?

Sau khi chia tay, người yêu cũ đã hack Facebook và tung thông tin giả là tôi đã phá thai lên mạng xã hội cùng với lời lẽ xúc phạm nặng nề.



Điều 66, Nghị định số 174/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện quy định: Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe doạ, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác; ……… Người đưa thông tin sai sự thật tùy từng trường hợp, tính chất, mức độ có thể đối diện với các tội danh như Vu khống hoặc Làm nhục người khác. Nếu xác định chính xác người đưa thông tin biết rõ sai sự nhật nhằm mục đích xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm… của cá nhân khác và tin đồn đó có tính chất vu khống thì áp dụng theo quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự có thể phạt tù 3 tháng - 7 năm về tội Vu khống. 

Mặt khác, nếu người đưa thông tin cá nhân, đời tư của người khác lên mạng xã hội với lời lẽ, câu chữ mang tính chất thóa mạ, sỉ nhục, chửi bới một cách thô bỉ, tục tỉu nhằm vào nhân cách, nhân phẩm của người khác, để người đó thấy xấu hổ trước những người khác; áp dụng điều 121 Bộ luật hình sự về tội Làm nhục người khác. Tuy nhiên, với 2 tội danh trên, người phạm tội tại khoản 1 chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn yêu cầu từ phía bị hại. Sau đó, có thể yêu cầu người tung tin cải chính, xin lỗi công khai hoặc bồi thường thiệt hại theo mức độ bị thiệt hai (yêu cầu/ khởi kiện tại tòa án). Đối với sự việc ở mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của mình, bạn có thể làm đơn tố giác tại cơ quan công an có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Để có cách hành xử đúng mực và không vi phạm pháp luật, luật sư Giáp đưa ra lời khuyên cho người sử dụng mạng xã hội: - Tuyệt đối tuân thủ quy định pháp luật, nội quy riêng dành cho các diễn đàn mà mình tham gia là thành viên. - Khi bản thân đã tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật liên quan đến mạng xã hội cần góp phần ngăn chặn những hành vi, hành động vi phạm pháp luật liên quan đến mạng xã hội như tố cáo, tố giác, thông báo cơ quan có chức năng/ thẩm quyền. - Khi trao đổi, chia sẻ bất kỳ thông tin gì trên mạng xã hội cần phải trung thực, cân nhắc nguồn tin đó là chính xác và hợp pháp. - Hạn chế đưa thông tin cá nhân người khác lên mạng xã hội khi chưa hỏi ý kiến của chính cá nhân đó, dù thông tin đó là hoàn toàn được phép và là thông tin phổ biến như họ tên, ngày tháng, năm sinh, nghề nghiệp … - Cân nhắc kỹ trước khi tham gia các nhóm, trang do các tổ chức, cá nhân hoạt động có tính chất phản động, bôi nhọ, nói xấu Đảng và Nhà nước.
Read »

Các trường hợp hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú

Em xin hỏi, điểm cộng ưu tiên khu vực sẽ căn cứ sổ hộ khẩu thường trú hay căn cứ địa chỉ trường THPT mà học sinh theo học? Học sinh của trường THPT Chuyên Nguyễn Thiện Thành (Trà Vinh) thì sẽ được cộng bao nhiêu điểm?



Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy:

"Chính sách ưu tiên theo khu vực

a) Thí sinh học liên tục và tốt nghiệp trung học tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu trong 3 năm học trung học có chuyển trường thì thời gian học ở khu vực nào lâu hơn được hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu mỗi năm học một trường hoặc nửa thời gian học ở trường này, nửa thời gian học ở trường kia thì tốt nghiệp ở khu vực nào, hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Quy định này áp dụng cho tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã tốt nghiệp từ trước năm thi tuyển sinh.

b) Các trường hợp sau đây được hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú:

- Học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú;

- Học sinh các trường, lớp dự bị đại học;

- Học sinh các lớp tạo nguồn được mở theo quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc UBND cấp tỉnh;

- Học sinh có hộ khẩu thường trú tại: Các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 được quy định tại Quyết định số 447/QĐ-UBDT ngày 19/9/2013 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 – 2015 được quy định tại Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 1/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015 được quy định tại Quyết định số2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 495/QĐ-TTg ngày 8/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 nếu học trung học tại địa điểm thuộc huyện, thị xã có các xã trên".

Trường hợp của thí sinh Nguyễn Đặng Nghiệp Trình không nói rõ hộ khẩu thường trú của thí sinh ở đâu nên không trả lời cụ thể được. Thí sinh có thể căn cứ quy định trên để biết trường hợp cụ thể của mình.
Read »

Trả 100% phí khám bệnh nếu mua BHYT liên tục 5 năm ?

Tôi đã đóng BHXH 5 năm liên tục và đã có giấy chứng nhận miễn cùng chi trả do BHXH Quận 10 cấp. Nhưng trước khi được cấp giấy xác nhận đó tôi đã phải chi trả chi phí khám chữa bệnh vượt quá 6,9 triệu đồng. Vậy phần vượt đó tôi nhận lại ở đâu, cần hồ sơ gì vì khi làm giấy xác nhận miễn cùng chi trả tôi đã nộp hết hồ sơ rồi.



Luật BHYT sửa đổi, bổ sung quy định: Từ 1/1/2015, các trường hợp người có thẻ BHYT đã tham gia BHYT từ đủ 5 năm liên tục trở lên, có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh đúng tuyến trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện tại là: 1.150.000 đồng x 6 = 6.900.000 đồng) thì sẽ được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh (KCB).

Người bệnh sẽ được hưởng 100% chi phí KCB khi đi KCB đúng tuyến từ ngày được cấp giấy chứng nhận không cùng chi trả (ngày nộp hồ sơ). Chi phí đồng chi trả phát sinh từ ngày nộp hồ sơ xin cấp giấy không cùng chi trả đến ngày được cấp giấy chứng nhận không cùng chi trả sẽ do cơ quan BHXH thanh toán. Trường hợp của ông (bà) nếu có phát sinh chi phí đồng chi trả từ ngày nộp hồ sơ xin cấp đến ngày nhận được giấy không cùng chi trả mời ông (bà) đem toàn bộ hóa đơn, thẻ BHYT và giấy tờ tùy thân có ảnh đến cơ quan BHXH TP. Hồ Chí Minh để được thanh toán.

Phần vượt quá 6 tháng lương tối thiểu trước thời gian cấp giấy chứng nhận không cùng chi trả chưa được Luật BHYT sửa đổi, bổ sung quy định thanh toán lại cho người bệnh.
Read »

Cán bộ hợp đồng có được hưởng lương tăng thêm 8%?

Tôi nhân viên y tế trường Mầm non Độc Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, được UBND TP. Thái Nguyên ký hợp đồng lao động dài hạn từ năm 2009, hệ số lương hiện hưởng là 2,26. Tôi xin hỏi, tôi có thuộc đối tượng được hưởng tiền lương tăng thêm theo Nghị định 17/2015/NĐ-CP không?

Điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư số 32/2015/TT-BTC ngày 17/3/2015 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang có hệ số lương từ 2,34 trở xuống theo Nghị định số 17/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ. Theo đó, đối với số người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, chỉ tổng hợp số người làm việc theo chế độ hợp đồng không thời hạn trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, cơ quan hành chính Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp; số người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động hưởng lương từ ngân sách Nhà nước thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; số giáo viên mầm non làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định tại Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ để xác định nhu cầu kinh phí thực hiện Nghị định số 17/2015/NĐ-CP.

Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, trường hợp và Nguyễn Thị Thanh Hoa, là hợp đồng lao động y tế học đường tại trường Mầm non Độc Lập thuộc UBND thành phố Thái Nguyên, không thuộc đối tượng hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg, do vậy không được hưởng chế độ theo Nghị định 17/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về quy định tiền lương tăng thêm đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang có hệ số lương từ 2,34 trở xuống.
Read »

Xe lưu hành trở lại có bị truy thu phí đường bộ?

Tôi mua xe ô tô từ năm 2009, đăng kiểm hết hạn vào tháng 7/2012, nhưng do không sử dụng nên tôi không đi đăng kiểm lại. Hiện tôi muốn sử dụng xe, vậy khi đăng kiểm lại, xe của tôi có bị truy thu phí sử dụng đường bộ từ ngày 1/1/2013 đến nay không?




Bộ Giao thông vận tải trả lời vấn đề này như sau:

Điều 2 Thông tư số 133/2014/TT-BTC ngày 11/9/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện quy định như sau:

"1. Đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), bao gồm:

a) Xe ô tô, máy kéo; rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự (sau đây gọi chung là ô tô);

b) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự (sau đây gọi chung là mô tô).

2. Xe ô tô quy định tại khoản 1 Điều này không chịu phí sử dụng đường bộ trong các trường hợp sau:

a) Bị hủy hoại do tai nạn hoặc thiên tai;

b) Bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe;

c) Bị tai nạn đến mức không thể tiếp tục lưu hành phải sửa chữa từ 30 ngày trở lên;

d) Xe kinh doanh vận tải thuộc các hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh vận tải tạm dừng lưu hành liên tục từ 30 ngày trở lên;

đ) Xe ô tô không tham gia giao thông, không sử dụng đường thuộc hệ thống giao thông đường bộ, chỉ sử dụng trong phạm vi đất thuộc quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã như: nhà ga, cảng, khu khai thác khoáng sản, nông, lâm nghiệp và xe ô tô dùng để sát hạch của tổ chức đào tạo dạy nghề lái xe…".

Căn cứ quy định nêu trên, xe ô tô của ông không thuộc các trường hợp không chịu phí sử dụng đường bộ. Vì vậy, xe ô tô của ông khi đi đăng kiểm vẫn bị truy thu phí sử dụng đường bộ từ ngày 1/1/2013 theo quy định.
Read »

Đòi tiền lo việc vào công ty như thế nào ?

Đòi tiền lo việc vào công ty như thế nào ?Tôi có quen một người và người này có giới thiệu tôi vào một công ty tư nhân làm việc và hứa cho tôi vào phòng kế toán làm việc. Khi tôi vào công ty làm việc thì người ta bảo tôi vào phòng trực tổng đài một thời gian rồi sẽ cho tôi qua phòng kế toán. Nhưng từ năm ngoái tới giờ họ vẫn chưa cho tôi làm công việc kế toán như đã cam kết. Trước khi vào công ty tôi có đặt cọc mấy chục triệu để người ta cho tôi vào làm ở phòng kế toán và có giấy tờ rõ ràng, nội dung giấy tờ có ghi là nhận tiền để lo việc. Vì không tin tưởng nên tôi có ghi âm cuộc trò chuyện đó. Bây giờ tôi muốn lấy lại số tiền đặt cọc mấy chục triệu đó thì phải làm thế nào?




Theo những thông tin bạn cung cấp cho thấy, người giới thiệu này có biểu hiện của sự gian dối khi hứa hẹn công việc kế toán mà không thực hiện, hành vi này đã vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 6, Điều 8 Bộ luật lao động như sau: “6. Dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật”. Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động liên quan đến dịch vụ việc làm như sau: “Điều 4. Vi phạm quy định về dịch vụ việc làm

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với tổ chức dịch vụ việc làm có hành vi thu phí dịch vụ việc làm vượt quá mức quy định theo một trong các mức sau đây:

a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về vị trí việc làm;

b) Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm hết hạn.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả lại cho người lao động khoản phí dịch vụ việc làm đã thu của người lao động cao hơn mức quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Buộc nộp lại phí dịch vụ việc làm đã thu của người lao động vào ngân sách nhà nước đối với vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này”.


Để xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật và lấy lại tiền bạn cần saonội dung ghi âm ra đĩa, giấy xin việc, giấy giao tiền, giấy xác định vị trí hiện tại bạn đang trực tổng đài và các bằng chứng khác gửi kèm theo đơn tố cáo hành vi gian dối của người đó ra cơ quan công an để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, các cơ quan chức năng sẽ chuyển đến cơ quan công an để xem xét khởi tố về hành vi lừa đảo.
Read »

Điều kiện nhận chế độ mang tái phí

Điều kiện nhận chế độ mang tái phí .Ông bà tôi không có con trai nên nhận chú tôi làm con nuôi. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chú tôi đã hy sinh. Ông bà tôi đã được nhận chế độ tuất hàng tháng cho người có công nuôi dưỡng liệt sỹ. Ông tôi mất cách đây hơn một năm. Xin hỏi ông tôi có được hưởng chế độ mai táng phí cho người có công với cách mạng không?



Căn cứ điểm g khoản 2, Điều 14 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (số 01/VBHN-VPQH ngày 30 tháng 7 năm 2012) và khoản 5 điều 20 Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2013 Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì ông của bạn thuộc đối tượng được hưởng chế độ mai táng đối với thân nhân người có công với cách mạng và người tổ chức mai táng cho ông hoặc đại diện thân nhân sẽ được nhận mai táng phí; hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi và có trách nhiệm làm hồ sơ để hưởng chế độ này.

Hồ sơ gồm có: (Điều 39 thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH)

+ Bản khai của đại diện thân nhân (kèm biên bản ủy quyền) hoặc người tổ chức mai táng (Mẫu TT1);

+ Giấy chứng tử.

Nơi nộp hồ sơ: Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thời gian giải quyết: 25 ngày

Bạn có thể liên hệ trực tiếp với phòng Lao động- Thương binh và Xã hội cấp huyện hoặc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội để được hướng dẫn chi tiết.
Read »

Bệnh gì được hoãn nghĩa vụ quân sự

Bệnh gì được hoãn nghĩa vụ quân sự ?. Năm nay tôi 23 tuổi nhưng vào tháng 4 vừa rồi tôi bị đau âm ỉ vùng thắt lưng, vào 27/4/2015 tôi đến bệnh viện để khám thì bị thận phải có sỏi 4mm và niệu quản ( P ) dãn qua đoạn bắt chéo động mạch chậu, bác sĩ yêu cầu phẫu thuật để lấy sỏi, nhưng gia dình tôi lại không đồng ý phẫu thuật, và xin bác sĩ đơn thuốc về uống, bác sĩ hẹn 3 tháng sau lên tái khám, nhưng trong thời gian chữa tại nhà thì vẫn bị đau âm ỉ vùng thắt lưng và kéo ra mạng sườn, xin cho tôi hỏi là như vậy có đủ điều kiện nghĩa vụ quân sự không...




Theo quy định của điểm a khoản 3 điều 4Thông tư số167/2010/TT-BQP về tiêu chuẩn tuyển quân : Tuyển những công dân có sức khỏe loại 1, 2, 3 theo tiêu chuẩn sức khỏe quy định của liên Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng về việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Căn cứ theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT-BQP-BYT hướng dẫn khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự thì khoản 4 điều 9 về phân loại sức khỏe có quy định: “Căn cứ vào số điểm chấm cho 8 chỉ tiêu ghi trong phiếu sức khỏe nghĩa vụ quân sự. để phân loại cụ thể như sau:

a) Loại 1: 8 chỉ tiêu đều đạt điểm 1, có thể phục vụ ở hầu hết các quân, binh chủng.

b) Loại 2: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 2, có thể phục vụ trong phần lớn các quân, binh chủng.

c) Loại 3: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 3, có thể phục vụ ở một số quân, binh chủng.

d) Loại 4: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 4, có thể phục vụ hạn chế ở một số quân, binh chủng.

đ) Loại 5: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 5, có thể làm một số công việc hành chính sự vụ khi có lệnh tổng động viên.

e) Loại 6: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 6, là loại sức khỏe được miễn làm nghĩa vụ quân sự.”

Áp dụng đối với trường hợp của bạn, theo danh mục mà thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT-BQP-BYT ban hành:

- Trong danh mục 7 các bệnh lý về ngoại khoa (số thứ tự 133) của Thông tư liên tịch 36/2011 BQP-BYT có quy định về các bệnh Thận, tiết niệu :Trường hợp của bạn có sỏi thận chưa mổ hoặc có sỏi ở 2 bên sẽ thuộc sức khỏe loại 5.

- Trong danh mục 7 các bệnh lý về ngoại khoa (số thứ tự 134) của Thông tư liên tịch 36/2011 BQP-BYT có quy định về các bệnh Thận: Trường hợp các cơn đau âm ỉ vùng thắt lưng kéo ra mạn sườn có thể là các cơn đau quặn thận hay tái diễn, đây là bệnh lý được xếp sức khỏe loại 5T.

- Trong danh mục 7 các bệnh lý về ngoại khoa (số thứ tự 139) của Thông tư liên lịch số 36/2011/ BQP –BYT có quy định về bệnh Tiết niệu : Niệu quản nằm sau động mạch chậu thì thuộc sức khỏe loại 6.

Như vậy trường hợp của bạn nếu chỉ xét trên 3 tiêu chí bạn cung cấp thì cả chỉ tiêu đều bị điểm trên 4 (hai tiêu chí 5 điểm và 1 tiêu chí 6 điểm) nên căn cứ điểm a khoản 3 điều 4 Thông tư 167/2010 của Bộ quốc phòng, bạn không thuộc diện đủ điều kiện về sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự.

Theo Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành thì các bệnh mà bạn gặp phải không nằm trong danh mục các bệnh mãn tính để được miễn nghĩa vụ quân sự. Bởi vậy, để biết chắc chắn mình có thuộc đối tượng được tuyển đi nghĩa vụ quân sự hay không thì bạn cần tham gia khám nghĩa vụ quân sự một cách tổng quát trong đợt khám hàng năm ở địa phương nếu được gọi tham gia khám sức khỏe, bởi còn rất nhiều tiêu chí khác về sức khỏe cần được đánh giá một cách cụ thể và kỹ càng theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe. Nếu không đủ sức khỏe, bạn sẽ được hoãn tham gia nghĩa vụ quân sự theo quy định của khoản 1 điều 3 Nghị định 38/2007 của Chính phủ với lý do : “Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ.”
Read »

Cảnh sát giao thông có được phép hoá trang để bắn tốc độ?

Việc cảnh sát giao thông hoá trang để bắn tốc độ như vậy có đúng với các quy định của pháp luật hay không?



Theo quy định tại Thông tư 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của cảnh sát giao thông đường bộ có quy định các trường hợp tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang như sau: Bí mật sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Đấu tranh phòng, chống tội phạm; khi tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự, an toàn giao thông phức tạp. Như vậy, khi làm nhiệm vụ thì CSGT có quyền được mặc thường phục để bắn tốc độ nhưng phải đảm bảo các quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 10 Thông tư 65/2012/TT-BCA về thẩm quyền và điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang như sau: Thẩm quyền quyết định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang quy định tại khoản 1 Điều này. Trưởng phòng Hướng dẫn và Tổ chức tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ thuộc Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều Điều 10 Thông tư 65/2012/TT-BCA. Cảnh sát giao thông có được phép hoá trang để bắn tốc độ? (Ảnh minh họa) Điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang Phải có kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 65/2012/TT-BCA phê duyệt. Nội dung kế hoạch phải nêu rõ thời gian, địa bàn tuần tra, kiểm soát; phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để tuần tra, kiểm soát. Tổ tuần tra, kiểm soát phải bố trí một bộ phận cán bộ trong tổ hóa trang (mặc thường phục) để giám sát tình hình trật tự giao thông, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi địa bàn được phân công. Khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành kiểm soát, xử lý theo quy định của pháp luật. Bộ phận hóa trang và bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai trong một tổ tuần tra, kiểm soát phải giữ một khoảng cách thích hợp để luôn có sự phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, đúng pháp luật. Nghiêm cấm lạm dụng việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang trái quy định của pháp luật để sách nhiễu, phiền hà, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Read »

Thủ tục khởi kiện đòi lại tiền đặt cọc mua đất

Tôi có mua một khu đất trị giá 500 triệu. Tôi đã đặt cọc tiền mua đất là 50 triệu và có giấy biên nhận bên nào phá vỡ hợp đồng sẽ phải bồi thường bằng số tiền đã đặt cọc. Nhưng hôm sau tôi phát hiện ra là người bán đất không đứng tên trích lục mà là người khác. Tôi đến đòi lại số tiền đặt cọc nhưng họ không cho lấy lại. Vậy giờ tôi kiện họ về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản để lấy lại tiền được không?



Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có nêu rõ “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Đối với trường hợp của bạn, người kia đã sử dụng việc mua bán đất để lấy được của bạn 50 triệu đồng. Hơn nữa , sau khi lấy được xong 50 triệu đồng thì người kia đã không thực hiện những gì đã cam kết mà còn tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ của mình. Do vậy, người này có thể bị vi phạm vào quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS năm 2009 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì thế, mức phạt dành cho người kia là bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến 3 năm. Mức phạt cụ thể sẽ do tòa án quyết định trong quá trình xét xử.

Thủ tục kiện ra tòa:

Theo quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, bạn có thể gửi hồ sơ tới Tòa án nhân dân cấp huyện. Hồ sơ của bạn phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đơn khởi kiện;

- Các tài liệu liên quan tới vụ kiện ( các chứng cứ sử dụng để chứng minh);

- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Về vấn đề án phí: theo quy định tại Điều 98, Điều 99 BLTTHS năm 2003; khoản 1, khoản 2 Điều 22 pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí thì bên bị kết án sẽ phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, nếu trường hợp Tòa án tuyên bên kia bị vô tội thì bên bạn phải chịu án phí.
Read »

Xây trổ cửa sổ lấn chiếm sang nhà bên trái phép?

Tôi có một khoảnh đất nhỏ phía sau nhà hẹp và dài . mà gia đình tôi vẫn sử dụng hơn 30 năm nay và từ khi được hóa giá nhà, tôi vẫn đóng thuế đất đầy đủ cho cả khoảnh đất này. Và khi làm đơn mua nhà nghị định 61, tôi có làm đơn xin mua và có sơ đồ cả rẻo đất này. Nay nhà hàng xóm phá nhà cũ đi xây nhà (cũng là đất xin mua ngoài HĐ như rẻo đất của tôi) ,

Đầu tiên họ định xây lấn luôn phần đất này, nhưng tôi đã làm đơn trình báo phường nên họ không lấn ra được. Nhưng nay tôi thấy họ trổ cửa sổ, và chừa một khoảng tường như có ý định mở cửa ra vào (cửa ra vào thì tôi chưa chắc lắm) xin luật sư cho tôi hỏi, họ có được phép trổ cửa sổ và cửa ra vào ra rẻo đất mà tôi đã sử dụng nhiều năm không. Tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là rẻo đất chỉ riêng mình nhà tôi sử dụng khoảng 30 năm nay , vì nó nhỏ nên tôi không xây để lại để lấy ánh sáng.và không khí cho nhà




Theo quy định của Luật đất đai 2013 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất :

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.



Theo đó thì khi bạn có một khoảnh đất nhỏ phía sau nhà hẹp và dài, gia đình bạn vẫn sử dụng hơn 30 năm nay và từ khi được hóa giá nhà vẫn đóng thuế đất đầy đủ cho cả khoảnh đất này. Như vậy, thì bạn có thể yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phần diện tích này.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận thì phần diện tích đó thuộc sở hữu của bạn và đương nhiên người khác sẽ không có quyền xây lấn chiếm khi chưa có sự đồng ý của bạn.

Đồng thời, theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về việc sở hữu đối với mốc giới ngăn cách các bất động sản. Cụ thể:

Điều 266. Quyền sở hữu đối với mốc giới ngăn cách các bất động sản

1. Chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình. Những người sử dụng đất liền kề có thể thoả thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn, trồng cây trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của những người đó.

Trong trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thoả thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.

Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

Trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

Theo đó, không được trổ cửa sổ khi chưa được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý và trong trường hợp của bạn để đảm bảo quyền lợi thì bạn có thể yêu cầu hàng xóm dừng việc trổ cửa lấn chiếm sang phần diện tích của gia đình bạn . Trường hợp đã yêu cầu mà việc trổ cửa trái phép vẫn được thực hiện thì bạn có thể yêu cầu phía cơ quan chức năng can thiệp vào để giải quyết.
Read »

Có quyền đơn phương ly hôn không?

Có quyền đơn phương ly hôn không? Mặc dù chồng tôi không muốn ly hôn nhưng tôi vẫn muốn ly hôn. Vậy tôi có quyền đơn phương xin ly hôn không? Căn cứ nào để tòa án cho ly hôn?

Theo Điều 89, 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (LHNGĐ) và các văn bản pháp luật có liên quan thì: Một bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu ly hôn, dù người kia không đồng ý. Khi đó, tòa án có thẩm quyền sẽ xem xét yêu cầu ly hôn đó có căn cứ hay không?
Nếu xét thấy cuộc hôn nhân của vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án quyết định cho ly hôn. Cụ thể là:
Thứ nhất, được xem là mâu thuẫn trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
Thứ hai, để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã nêu trên chưa.
Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng người đó vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
Thứ ba, mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Read »

Chia sẻ các tin tức hàng ngày .Về các ngôi sao , ẩm thực kinh nghiệm đi du lịch , tâm sự chị em

Copyright © 2015 TÌM KIẾM TIN TỨC

Designed by | Distributed By Tìm Kiếm Tin Tức|MÓN MẶN|MÓN NGỌT| KINH NGHIỆM| CÁC LOẠI MỨT TẾT| LÀM ĐẸP| TÂM SỰ|

/* */