KINH NGHIỆM LÀM BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ - CHIA DI SẢN.

KINH NGHIỆM LÀM BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ - CHIA DI SẢN. 


Chia di sản thừa kế, đây là một phần bài tập mà hầu hết các bài thi hết học phần môn dân sự
đều có ở tất cả cơ sở đào tạo luật, tùy vào cách phân chia của tổ bộ môn mà phần này có thể
nằm ở phần I hay phần II của chương trình đào tạo.
Đây cũng là một vấn đề nan giải đối với các bạn sinh viên khi mới bước vào học phần thừa kế,
nhằm chia sẻ kinh nghiệm của mình cho các bạn sinh viên, trong phạm vi bài viết này tác giả
xin đưa ra một số phương pháp và một số lưu ý khi tiến hành chia thừa kế.
Để làm bài tập thừa kế thì tác giả thường đi theo các bước sau:
Bước 1: Xác định di sản người chết để lại.
- Để làm được bước này cần phải chú ý đến, người chết là người độc thân hay đã kết hôn,
nếu đã kết hôn thì cần phải xem tài sản nào là tài sản riêng, tài sản nào là tài sản chung, phần
tài sản chung thì pháp áp dụng nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng theo quy định tại
Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình ( về nguyên tắc là chia đôi).
- Các nghĩa vụ người chết để lại: Thông thường trong các bài tập chia thừa kế thì có phần chi
phí mai táng, chi phí này sẽ được trừ vào số di sản của người chết.
- Các khối tài sản khác của người chết có được: Có thể người nhận được một phần di sản thừa
kế của người khác trong cùng một tình huống, vì vậy cần chú ý để cộng thêm khoản này vào
khối di sản.
Bước 2: Vẽ sơ đồ phả hệ:
- Đây là một bước không thể thiếu khi làm bài tập chia thừa kế, mặc dù trong bài làm chúng ta
không cần đưa vào, nhưng việc vẻ phả hệ sẽ giúp chúng ta xác định được những người có
quyền thừa kế theo pháp luật, giúp ta không bỏ sót người thừa kế.
Bước 3: Xác định có di chúc hay không? Di chúc có hợp pháp hay không? Có hiệu lực
toàn bộ hay một phần?
- Để làm được bước này bạn cần xem dữ kiện bài ra xem có di chúc để lại hay không? Nếu có
thì bạn phải xem di chúc đó có hợp pháp về mặt nội dung và hình thức theo quy định của pháp
luật hay không? Tham khảo Điều 652 BLDS. Xem trong những người nhận thừa kế còn sống
tại thời điểm mở thừa kế hay không? ( đối với cá nhân), còn tồn tại hay không? ( đối với tổ
chức).
- Nếu sau khi xem xét thấy có di chúc hợp pháp thì chia thừa kế theo di chúc, nếu không có
di chúc thì chia theo pháp luật. Tùy trường hợp cụ thể cần phải xem xét di chúc đã định đoạt
hết toàn bộ di sản hay chưa? Nếu có phần chưa được định đoạt hoặc không có hiệu lực thì phải
tiếp tục chia theo pháp luật.
Những lưu ý khi chia thừa kế theo di chúc:
Thông thường nếu bài tập cho dữ kiện có di chúc thì di chúc đó là di chúc có hiệu lực một
phần, 1 phần sẽ không phát sinh hiệu lực do có người chết trước hoặc chết cùng hoặc di chúc
đã không cho những người được bảo vệ ở Điều 669 hưởng đủ 2/3 1 suất thừa kế theo pháp
luật.
Trường hợp 1:
Có người chết trước hoặc chết chết cùng thời điểm: Trong trường hợp này thì sau khi chia theo
phần di chúc có hiệu lực thì tiếp tục chia thừa kế theo pháp luật phần di sản còn lại, tuyệt đối
không áp dụng thừa kế thế vị ( Điều 677) trong trường hợp này.
Trường hợp 2:
Sau khi chia theo di chúc và pháp luật mà có người thừa kế thuộc Điều 669 thì cần phải cho họ
hưởng đủ 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp này phải tính một suất thừa kế
theo pháp luật, sau đó xác định phần họ còn thiếu để đủ 2/3 một suất thừa kế. Vấn đề là lấy
phần còn thiếu này từ đâu thì hiện tại vẫn tồn tại 02 quan điểm:
Quan điểm 1: Lấy theo tỉ lệ của những người thừa kế theo di chúc.
Quan điểm 2: Lấy theo tỉ lệ của những người được hưởng thừa kế theo di chúc và theo pháp
luật.
Tôi theo quan điểm thứ 2. (vấn đề này sẽ được lý giải ở một bài viết khác).
Những lưu ý khi chia thừa kế theo pháp luật:
Việc chia thừa kế theo pháp luật thì không quá phức tạp như chia thừa kế theo di chúc, tuy
nhiên cần lưu ý:
- Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật.
Các bạn tham khảo Điều 675 Bộ luật Dân sự 2005.
- Xác định hàng thừa kế theo quy định tại Điều 676 BLDS.
Đối với trường hợp này cần lưu ý, khi đề bài cho tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ 1
đều đã chết hoặc còn những họ đã từ chối nhận di sản hoặc bị tước quyền hưởng thừa kế
nhưng lại có người để thừa kế thế vị thì chúng ta ưu tiên những người hưởng thừa kế thế vị
trước chứ không chia cho hàng thừa kế thứ 2.
- Thừa kế thế vị : Cần lưu ý thừa kế thế vị chỉ áp dụng khi con của người để lại di sản chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với người chết chứ không áp dụng đối với trường hợp người
con chết sau người để lại di sản. Và cháu, chắt để được hưởng thừa kế phải là con ruột của
người con đã chết, có thể hiểu nôm na là không áp dụng đối với “cháu nuôi”, “chắt nuôi”.
Thừa kế thế vị cũng chỉ áp dụng đối với trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, không áp
dụng đối với trường hợp chia thừa kế theo di chúc. Khi di chúc có phần để lại cho người đó
nhưng người đó chết thì phần đó sẽ không phát sinh hiệu lực và được chia theo pháp luật, lúc
này người cháu/chắt mới được hưởng thừa kế thế vị.

Read »

Công ty cho nghỉ lễ thời gian quá ngắn

Công ty cho nghỉ lễ thời gian quá ngắn.Đợt 30/4 và 1/5 vừa qua, tôi thấy bạn bè đều được nghỉ khá dài. Tuy nhiên, công ty tôi lại chỉ cho nghỉ đúng hai ngày nêu trên. Xin chuyên gia cho tôi hỏi về chế độ nghỉ của người lao động được quy định trong luật như thế nào?


Theo quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, người lao động được nghỉ lễ, tết mà vẫn hưởng nguyên lương theo quy định của Điều 115. Nếu những ngày nghỉ theo luật định trùng với ngày nghỉ hàng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.

Cụ thể, bạn có thể tham khảo Điều luật được trích dẫn dưới đây:

Điều 115. Nghỉ lễ, tết

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch 05 ngày;

c) Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

d) Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

đ) Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch);

e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

2. Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài ngày nghỉ lễ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

3. Nếu những ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này trùng vào ngày nghỉ hằng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.
Read »

Thắc mắc về công cụ hỗ trợ


Thắc mắc về công cụ hỗ trợ



Hỏi: Pháp luật nghiêm cấm cá nhân sử dụng vũ khí như thế nào?

Trả lời: Điều 5 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã có quy định nghiêm cấm việc cá nhân sở hữu vũ khí, bao gồm các loại sau:

1. Vũ khí quân dụng các loại như: súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên và các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng như súng tự chế, súng bút, súng bắn đạn ghém (đạn hoa cải). Các loại bom, mìn, lựu đạn, đạn, ngư lôi, thủy lôi, hỏa cụ;

2. Súng săn là súng dùng để săn bắn gồm súng kíp, súng hơi, các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự.

3. Vũ khí thô sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

4. Vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao.

5. Các loại thuốc nổ và phụ kiện nổ.

6. Công cụ hỗ trợ gồm: Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này; Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa; Các loại lựu đạn khói, lựu đại cay, quả nổ; Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khoá số tám, bàn chông, dây đinh gai, áo giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn; Động vật nghiệp vụ.

Pháp lệnh cũng nghiêm cấm việc đào bới, tìm kiếm vũ khí, vật liệu nổ khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

Hỏi: Việc khai báo, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 11 của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định: Tổ chức, cá nhân phải khai báo, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho cơ quan Quân sự, Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất trong các trường hợp sau đây:

a) Không thuộc đối tượng được trang bị, sử dụng theo quy định của pháp luật mà có từ bất kì nguồn nào;

b) Phát hiện, thu nhặt được.

Hỏi: Người được giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm như thế nào?

Điều 8 của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định trách nhiệm của người được giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, đó là:

1. Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đúng mục đích, đúng quy định.

2. Bảo quản vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đúng chế độ, quy trình, bảo đảm an toàn, không để mất, hư hỏng.



3. Bàn giao lại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho người có trách nhiệm quản lý, bảo quản sau khi kết thúc nhiệm vụ hoặc hết thời hạn được giao.

4. Khi mang, sử dụng vũ khí công cụ hỗ trợ phải mang giấy phép sử dụng theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ thì bị xử phạt hành chính với mức phạt tối đa là bao nhiêu?

Trả lời: Theo Điều 10, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì cá nhân có hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm thì sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền tối đa lên đến 40.000.000 đồng (đối với cá nhân), 80.000.000 đồng. (đối với tổ chức)

Hỏi: Hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là tội phạm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2009) quy định cá nhân có hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ sẽ bị xử lý như sau:

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị truy tố theo Điều 230 BLHS.

2. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị truy tố theo Điều 232 BLHS.

3. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị truy tố theo Điều 133 BLHS.

4. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị truy tố theo Điều 234 BLHS.

5. Người nào được giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị truy tố theo Điều 235 BLHS.

6. Người nào sử dụng chất nổ để khai thác thuỷ sản hoặc làm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, thì bị truy tố theo Điều 188 BLHS.

Hỏi: Cá nhân, tổ chức tàng trữ, vận chuyển sản xuất, nhập khẩu, buôn bán “đèn trời” thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 5, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì các hành vi tàng trữ, vận chuyển sản xuất, nhập khẩu, buôn bán “đèn trời” đều bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và bị áp dụng mức xử phạt như sau:

- Đối với cá nhân: Hành vi đốt và thả “đèn trời” bị xử phạt từ 500.000đ đến 1.000.000đ; hành vi tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”bị xử phạt từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ; hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời" bị xử phạt từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ.

* Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 (hai) lần mức phạt tiền đối với cá nhân
Read »

Tài sản nhà ngoại cho mẹ có phải chia đôi khi ly hôn không

Bố mẹ cháu sau khi cưới nhau đã có nhà riêng. Sau một thời gian ông ngoại cháu cho mẹ cháu một mảnh đất ở một huyện khác và giúp dựng một căn nhà. Mẹ con cháu đã chuyển hộ khẩu sang bên nhà mới ở và mảnh đất đó hiện giờ đứng tên mẹ cháu. Bố cháu thì vẫn ở nhà cũ nhưng sau đó một thời gian bố có sang bên nhà mới ở (hộ khẩu bố cháu vẫn ở nhà cũ). Hiện tại bố cháu ở một mình ở nhà cũ, còn mẹ con cháu ở nhà mới. Cháu muốn hỏi nếu bây giờ bố mẹ cháu ly hôn thì bố cháu có được phép đòi quyền lợi đối với căn nhà mới mà mẹ con cháu đang ở không?



Câu hỏi của bạn liên quan đến việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với vấn đề này, Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định việc chia tài sản khi ly hôn đối với tài sản chung và tài sản riêng vợ chồng như sau:

“Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Như vậy, để phân chia tài sản khi ly hôn phải xác định được tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, khoản 1 Điều 27 và Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể như sau:

“Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.

Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.

Theo như bạn trình bày, hiện gia đình bạn đang có hai ngôi nhà. Ngôi nhà thứ nhất là ngôi nhà bố mẹ bạn cùng chung sống sau khi kết hôn, gọi là ngôi nhà cũ. Ngôi nhà thứ hai là ngôi nhà mới do ông ngoại xây cho mẹ bạn và đã được sang tên cho mẹ bạn. Căn cứ vào quy định tài sản riêng vợ, chồng là tài sản “được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân” ngôi nhà mới thứ hai được coi là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của mẹ bạn. Chính vì vậy, khi ly hôn tòa án sẽ quyết định ngôi nhà này thuộc về mẹ bạn, bố của bạn không có quyền đòi hỏi quyền lợi đối với ngôi nhà này./.
Read »

Điều kiện mở lớp dạy thêm

Tôi có bằng đại học nhưng không phải bằng sư phạm và không công tác trong ngành giáo dục. Nay tôi muốn đăng ký mở lớp dạy thêm tại nhà sau đó thuê giáo viên về dạy, xin luật sư tư vấn giúp tôi có đủ điều kiện để mở lớp không và cần những thủ tục gì, cơ quan nào cấp phép mở lớp dạy thêm. Tôi xin cảm ơn



Thành lập trung tâm dạy thêm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đó, ngoài đăng ký kinh doanh, bạn phải thực hiện thủ tục xin giấy phép thành lập trung tâm dạy thêm:

A. Thủ tục thành lập doanh nghiệp
Về thành lập DN, căn cứ vào loại hình DN bạn lựa chọn, bạn tìm hiểu Nghị định 43/2010/NĐ-CP (điều 19- điều 23). Văn bản có hướng dẫn cụ thể hồ sơ ĐK thành lập doanh nghiêp
- Nộp Hồ sơ tại Phòng ĐKKD thuộc sở KH-ĐT cấp tỉnh.
B. Điều kiện và thủ tục xin cấp phép thành lập TT dạy thêm (sau khi có giấy CNĐK doanh nghiệp)
Điều kiện thành lập trung tâm dạy thêm
.1. Điều kiện về cơ sở vật chất:
Cơ sở vật chất phục vụ dạy thêm, học thêm phải đảm bảo yêu cầu quy định tại Quyết định số 1221/QĐ-BYT ngày 18/4/2000 của Bộ Y tế về vệ sinh trường học và Thông tư liên tịch số26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/6/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trong đó có các yêu cầu tối thiểu:
1. Địa điểm tổ chức dạy thêm, học thêm đảm bảo an toàn cho người dạy và người học; ở xa những nơi phát sinh các hơi khí độc hại, khói, bụi, tiếng ồn; ở xa các trục đường giao thông lớn, sông, suối, thác, ghềnh hiểm trở.
2. Phòng học đảm bảo diện tích trung bình từ 1,10m2/học sinh trở lên; được thông gió và đủ độ chiếu sáng tự nhiên hoặc nhân tạo; đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, phòng bệnh.
3. Kích thước bàn, ghế học sinh và bố trí bàn, ghế học sinh trong phòng học đảm bảo các yêu cầu tại Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/6/2011.
4. Bảng học được chống lóa; kích thước, màu sắc, cách treo bảng học đảm bảo các yêu cầu tại Quyết định số 1221/QĐ-BYT ngày 18/4/2000.
5. Có công trình vệ sinh và có nơi chứa rác thải hợp vệ sinh.
II.2. Điều kiện đối với giáo viên dạy thêm:
1. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo đối với từng cấp học theo quy định của Luật Giáo dục.
Trình độ chuẩn theo quy định của Luật Giáo dục:
“Điều 77:
1. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo được quy định như sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học;
b) Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông;
d) Có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đối với giáo viên hướng dẫn thực hành ở cơ sở dạy nghề;
đ) Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên giảng dạy trung cấp;
e) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ.”
2. Có đủ sức khoẻ.
3. Có phẩm chất đạo đức tốt, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân và các quy định của pháp luật; hoàn thành các nhiệm vụ được giao tại cơ quan công tác.
4. Không trong thời gian bị kỉ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc.
5. Được thủ trưởng cơ quan quản lý hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận các nội dung quy định tại khoản 3, khoản 4 điều này (đối với người dạy thêm ngoài nhà trường); được thủ trưởng cơ quan quản lý cho phép theo quy định tại điểm b, khoản 4, điều 4 quy định này (đối với giáo viên đang hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập).
II.3. Điều kiện đối với người tổ chức dạy thêm
1. Có trình độ được đào tạo tối thiểu tương ứng với giáo viên dạy thêm (như trên). (Theo đó, bạn dự định mở trung tâm dạy thêm cho cấp học nào thì bạn phải tối thiểu có bằng cấp đào tạo với giáo viên dạy cấp đào tạo đó theo quy định tại Điều 77 nêu trên)
2. Có đủ sức khỏe.
3. Không trong thời gian bị kỉ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc.
III. Hồ sơ cấp phép dạy thêm, học thêm
Đối với dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường:
1. Đơn xin cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, trong đó cam kết với Uỷ ban nhân dân cấp xã về nơi đặt điểm dạy thêm, học thêm , thực hiện các quy định về dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường và trách nhiệm giữ gìn trật tự, an ninh, đảm bảo vệ sinh môi trường nơi tổ chức dạy thêm, học thêm.
2. Danh sách trích ngang người tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm và người đăng ký dạy thêm;
3. Đơn xin dạy thêm có dán ảnh của người đăng ký dạy thêm và có xác nhận của thủ trưởng cơ quan quản lý xác nhận Có phẩm chất đạo đức tốt, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân và các quy định của pháp luật; hoàn thành các nhiệm vụ được giao tại cơ quan công tác và Không trong thời gian bị kỉ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc.
4. Bản sao hợp lệ giấy tờ xác định trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của người tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm và người đăng ký dạy thêm;
5. Giấy khám sức khoẻ do bệnh viện đa khoa cấp huyện trở lên hoặc Hội đồng giám định y khoa cấp cho người tổ chức dạy thêm, học thêm và người đăng ký dạy thêm;
6. Bản kế hoạch tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm trong đó nêu rõ các nội dung về: đối tượng học thêm, nội dung dạy thêm, địa điểm, cơ sở vật chất tổ chức dạy thêm, mức thu tiền học thêm, phương án tổ chức dạy thêm, học thêm.
IV. Trình tự, thủ tục cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm
Bước 1. Tổ chức, cá nhân xin cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm lập hồ sơ cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm; gửi hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm.
Bước 2. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm tiến hành thẩm định hồ sơ, kiểm tra địa điểm, cơ sở vật chất tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm.
Bước 3. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền quyết định cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm hoặc trả lời không đồng ý cho tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm bằng văn bản.
Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm hoặc uỷ quyền cho Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm đối với các trường hợp tổ chức dạy thêm, học thêm có nội dung thuộc chương trình trung học phổ thông hoặc thuộc nhiều chương trình nhưng có chương trình cao nhất là chương trình trung học phổ thông.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm hoặc uỷ quyền cho Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm đối với các trường hợp tổ chức dạy thêm, học thêm có nội dung thuộc chương trình tiểu học, trung học cơ sở hoặc thuộc nhiều chương trình nhưng có chương trình cao nhất là chương trình trung học cơ sở
Read »

Chồng có nghĩa vụ trả khoản vay trả góp của vợ không?

Trước đây vợ em có đứng tên hợp đồng vay mua điện thoại di động trả góp để sử dụng cá nhân, cô ấy đã đóng tiền trả góp cho ngân hàng được vài tháng thì ngừng luôn không đóng nữa.



Căn cứ vào quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định như sau:

Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện

Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.

Nếu vợ vay tiền để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới cùng nhau trả khoản nợ đó. Nghĩa vụ trả nợ sẽ được thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng, nếu tài sản chung không đủ để thanh toán thì sử dụng tài sản riêng của vợ chồng để trả nợ.

Trường hợp trong thời kỳ hôn nhân, vợ vay tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân thì đó không được coi là khoản nợ chung của vợ chồng, đây được coi là khoản nợ riêng của vợ. Để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng trong thời kỳ hôn nhân thì vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung.

Do vậy trường hợp của bạn nếu trong thời kỳ hôn nhân vợ bạn mua điện thoại trả góp là để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình nên bạn không có nghĩa vụ liên đời chịu trách nhiệm trả khoản nợ đó cùng vợ. Vì đó là trách nhiệm dân sự riêng nên nếu trong trường hợp hai bạn ly hôn bạn cũng không có nghĩa vụ phải liên đới chịu trách nhiệm về khoản nợ đó cùng vợ mình.
Read »

Có thể hạn chế quyền thăm nom con của chồng sau khi ly hôn

Tôi và chồng ly hôn vào tháng 6 năm 2015, tòa xử tôi được quyền nuôi con vì con tôi dưới 36 tháng tuổi. Hàng tháng chồng tôi chu cấp cho con tôi là 200.000 đồng. Tuy nhiên, chồng tôi lại đưa con về quê 1 tháng rồì mới đưa con lên và sau đó hàng tuần đến thăm con thì không báo trước

Sau khi vợ chồng chị ly hôn, Tòa xử chị được quyền nuôi con vì con chị dưới 36 tháng tuổi, nhưng việc chồng chị thăm nom con chị hoàn toàn là hợp pháp, nhưng việc chồng chị đưa cháu về quê một thời gian chị có về đón nhưng chồng chị không cho điều này là trái với quy định của pháp luật, cụ thể:

Tại Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về quyền thăm nom con sau khi ly hôn:

“Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Vì vậy, chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chồng chị.
Read »

Vợ có trách nhiệm với khoản nợ riêng của chồng khi ly hôn không?


Vợ chồng tôi sắp li dị, trước khi li hôn chồng tôi có nợ một khoản tiền rất lớn và nói đó là tiền vay để làm ăn nhưng số tiền đó tôi không hề được biết. Vậy xin cho tôi hỏi : tôi có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ này không ?


Theo quy định tại điều 60 Luật HN&GĐ 2014 thì khi ly hôn vợ, chồng có tranh chấp về nghĩa vụ của tài sản đối với người thứ 3 thì sẽ áp dụng quy định tại điều 27, 37 và 45 luật này:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".

Theo quy định tại điều 37 luật HN&GĐ về nghĩa vụ chung tài sản của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:

"1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan".

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".

Trong trường hợp này, bạn không biết về việc chồng mình có vay tiền để làm ăn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của chồng bạn cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này và khi ly hôn bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của chồng bạn.

Ngoài ra, theo quy định tại điều 30 Luật HNGĐ nếu việc vay tiền của chồng bạn để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo nhận định của cơ quan Tòa án thì bạn cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới đới với khoản nợ này:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".

Nếu tài sản vay nợ đó không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn không phải chịu trách nhiệm với số tiền này.

Tuy nhiên, trong quá trính tranh chấp xảy ra tại Tòa án và nếu như chồng bạn chứng minh được rằng đã có thỏa thuận với bạn về việc vay tiền và bạn có liên quan tới việc sử dụng số tiền này để làm ăn thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với chồng.
Read »

Hợp đồng trọn gói điều chỉnh khối lượng đơn giá khi nào ?


Hợp đồng trọn gói điều chỉnh khối lượng đơn giá khi nào ?


Điều chỉnh khối lượng và đơn giá khi nào?
Mặc dù được coi là trọn gói và cố định nhưng trong trường hợp bất khả kháng thì hợp đồng sẽ cần có thỏa thuận cụ thể, tức là những tình huống thực tiễn xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát và khả năng lường trước của chủ đầu tư, nhà thầu, không liên quan đến sai phạm hoặc sơ xuất của chủ đầu tư, nhà thầu, như: chiến tranh, bạo loạn, đình công, hỏa hoạn, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, cách ly do kiểm dịch, cấm vận..
Ngoài ra với tường hợp khối lượng phát sinh ngoài thiết kế thì được quy định rõ trong Điều 35- Nghị định 48/2010: “Trường hợp có phát sinh hợp lý những công việc ngoài phạm vi hợp đồng đã ký (đối với hợp đồng thi công xây dựng là khối lượng nằm ngoài phạm vi công việc phải thực hiện theo thiết kế; đối với hợp đồng tư vấn là khối lượng nằm ngoài nhiệm vụ tư vấn phải thực hiện). Trường hợp này, khi điều chỉnh khối lượng mà không làm thay đổi mục tiêu đầu tư hoặc không vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu tính toán, thỏa thuận và ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng; trường hợp làm vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt thì phải được Người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định; trường hợp thỏa thuận không được thì khối lượng các công việc phát sinh đó sẽ hình thành gói thầu mới, việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu này theo quy định hiện hành”.
Read »

Bỏ học giờ đi học lại thì có bị đi nghĩa vụ quân sự không ?

Em nhận được thông tin sau lần phúc tra của anh làm việc trên phương là đã bỏ lỡ 1 năm học là phải đi nghĩa vụ quân sự, nhưng em tìm hiểu thì trong điều luật không có nói về việc này, chỉ bảo là “tạm hoãn đối tượng đang theo học chương trình phổ thông và các hệ đại học cao đẳng chính quy”, như vậy là sao ạ ?
Và bộ luật nghĩa vụ quân sự đang chờ thông qua vào 1/1/2016 có chắc chắn sẽ được áp dụng hay không ?



Cơ sở pháp lý: Luật nghĩa vụ quân sự, Nghị định số 38/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/03/2007 về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch số 175/2011/TTLT-BQP-BGDĐT ngày 13/09/2011, bạn sẽ được tạm hoãn hoặc miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự, nếu rơi vào một trong các trường hợp dưới đây.

Các trường hợp được tạm hoãn nhập ngũ:
1. Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;
2. Là lao động duy nhất phải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
3. Là lao động duy nhất trong gia đình vừa bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;
4. Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

5. Người đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu;
6. Người thuộc diện di dân, dãn dân trong ba năm đầu đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định;
7. Cán bộ, viên chức, công chức quy định tại Điều 4 Luật cán bộ, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đang cư trú tại địa phương hoặc người địa phương khác được điều động đến làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên;
8. Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;
9. Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật Giáo dục 2005 bao gồm:
a) Trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị đại học;
b) Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề;
c) Trường cao đẳng, đại học;
d) Học viện, viện nghiên cứu có nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ;
10. Học sinh, sinh viên đang học tại các nhà trường của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam hoặc học sinh, sinh viên được đi du học tại các trường ở nước ngoài có thời gian đào tạo từ mười hai tháng trở lên;
11. Công dân đang học tập tại các trường quy định tại điểm b, điểm c khoản 9 và khoản 10 chỉ được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong một khoá đào tạo tập trung, nếu tiếp tục học tập ở các khoá đào tạo khác thì không được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Hàng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại Điều này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.
Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ:

1. Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng 1, con của bệnh binh hạng 1;
2. Một người anh trai hoặc em trai của liệt sĩ;
3. Một con trai của thương binh hạng 2;
4. Cán bộ, viên chức, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện quy định tại khoản 7 nói trên và đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên;

Ngoài ra, trường hợp con bạn làm việc tại Ban Chỉ huy quân sự phường với tư các dân quân tự vệ thì theo quy định của Luật dân quân tự vệ, thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt là 4 năm do đó bạn chưa hoàn thành xong nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ. Các trường hợp được thôi thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn gồm:

1. Sức khỏe bị suy giảm không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;
2. Hoàn cảnh gia đình khó khăn đột xuất không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ;
Read »

Tự ý thay đổi địa chỉ trong khi Tòa án đang giải quyết vụ án


Tòa án không phải yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ sau này của bị đơn vì bị đơn đã tự ý thay đổi địa chỉ trong khi Tòa án đang giải quyết vụ án và không cung cấp địa chỉ mới thì coi như cố tình dấu địa chỉ, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung ?




Khi gặp trường hợp nêu trên, Tòa án cần phân biệt trường hợp nguyên đơn không cung cấp đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với trường hợp đương sự (bị đơn, người liên quan…) cố tình dấu địa chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình.

+ Nguyên đơn không cung cấp đầy đủ, cụ thể địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là trường hợp khi khởi kiện họ không cung cấp được đầy đủ, cụ thể địa chỉ, nơi cư trú hay nơi ở của những người bị khởi kiện (bị đơn) hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

+ Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ là trường hợp tại thời điểm khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ, cụ thể, chính xác địa chỉ, nơi ở, nơi cư trú của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án đã thông báo cho họ việc thụ lý vụ kiện, đã tiến hành triệu tập họ đến làm việc. Sau đó bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi chỗ ở nhưng không thông báo địa chỉ mới cho Tòa án hoặc nguyên đơn.
Như vậy, khi vụ án bị hủy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án mà bị đơn không có mặt tại nơi cư trú thì đó không phải là việc nguyên đơn không cung cấp được đầy đủ, cụ thể địa chỉ của bị đơn mà đó là việc bị đơn đã thay đổi nơi ở mà không thông báo cho Tòa án hoặc nguyên đơn biết về địa chỉ mới của họ. Trường hợp này được coi như bị đơn đã cố tình dấu địa chỉ và Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Read »

Dâu rể có được thừa kế không ?


Cha mẹ tôi vừa qua đời nhưng không lập di chúc. Hiện nay, anh chị em chúng tôi tiến hành phân chia tài sản. Xin hỏi ngoài chúng tôi (những người con ruột) thì những thành viên khác trong gia đình như dâu, rể có được hưởng thừa kế không?



Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành thì những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Pháp luật không đề cập gì đến những thành viên là dâu, rể nên về nguyên tắc đối với thừa kế theo pháp luật thì chỉ có con ruột mới được hưởng di sản do cha mẹ để lại.

Điều 32 Luật Hôn nhân & Gia đình quy định "Vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có được trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân... Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung".

Như vậy, sau khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế, chị sẽ có một phần tài sản riêng. Với tài sản đó chị có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung với người hôn phối. Nếu không nhập vào tài sản chung thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chị, không bị phân chia về sau
Read »

Bố mẹ không đồng ý thì có được kết hôn không

Chúng tôi sắp kết hôn và đã chuẩn bị giấy tờ đầy đủ cho việc đăng ký. Nhưng bố mẹ hai bên không đồng ý cho tôi và bạn gái tiến tới xây dựng gia đình thì tôi có thể tự đăng ký kết hôn với bạn gái của tôi không?



Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nam nữ kết hôn phải tuân theo những điều kiện sau đây:

- Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên.

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Tuy nhiên, Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định các trường hợp cấm kết hôn gồm:

- Người đang có vợ hoặc có chồng.

- Người mất năng lực hành vi dân sự.

- Giữa những người có dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi. Bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

- Giữa những người cùng giới tính.

Như vậy, trường hợp của hai bạn, nếu hội tụ đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 9 và không vi phạm các quy định tại Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì các bạn có quyền tự kết hôn. Bố mẹ hai bên gia đình không có quyền ngăn cản các bạn kết hôn. Tuy nhiên, việc đăng ký kết hôn phải được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư ngụ của một trong hai bên kết hôn và thực hiện đầy đủ nghi thức theo quy định của pháp luật.
Read »

Vỏ được sản xuất đảm bảo giữ độ ồn đạt tiêu chuẩn môi trường



►Chức năng:
Giảm độ ồn của máy đạt tiêu chuẩn cho phép 75±3dBA@ 7m.

MÁY PHÁT ĐIỆN

►Cấu tạo:
✔ Vỏ được sản xuất đảm bảo giữ độ ồn đạt tiêu chuẩn môi trường và cung cấp đầy đủ không khí làm mát máy với nhiệt độ môi trường xung quanh cao đến 45-50oC.

✔ Vỏ bằng tole, được sơn tỉnh điện toàn bộ, đặt trong nhà. Bên trong vỏ các âm được lứt các lớp vật liệu cách âm có khả năng chống cháy. Thiết kế có cửa lấy gió và thoát khí nóng hợp lý để đảm bảo máy không bị nóng khi hoạt động dài hạn.

✔ Vỏ cách âm được thiết kế và chế tạo vững chắc, có các móc treo giúp cho việc cẩu và vận chuyển toàn bộ hệ thống máy phát điện một cách dễ dàng, an toàn. Vỏ cách âm được thiết kế có của hai bên hông rộng thoáng

✔ Vật liệu cách âm chịu được nhiệt và nước.
✔ Taynắm cửa có khoá. Bản lề cửa bằng thép không rỉ chống sự ăn mòn.

►Môi trường làm việc: Nhiệt đới

1. Vỏ chống ồn máy phát kiểu container: Đựơc Công ty Enco sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn độ ồn Việt nam, được chia ra lảm 2 loại sau:
- Loại container 20ft sử dụng cho loại máy phát tới 1000KVA
- Loại container 40ft sử dụng cho loại máy phát trên 1000KVA
- Vỏ container được sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, có thể trực tiếp vận chuyển bằng đường biển.

2. Vỏ chống ồn máy phát:Công ty Enco sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn độ ồn Việt nam:
- Có thể cẩu trực tiếp máy phát thông qua móc cẩu bên trên
- Thiết kế lưu lượng gió vào ra đảm bảo theo yêu cầu chay máy
- Vật liệu cách âm có độ bền cao, đảm bảo giảm độ ồn ở mức thấp nhấp
- Toàn bộ vỏ được sơn tĩnh điện, đảm bảo chịu đựng đựoc mưa nắng.









Cummins là hãng sản xuất động cơ hàng đầu thế giới,với các nhiệm vụ kinh doanh, thiết kế, chế tạo, phân phối và dịch vụ các loại động cơ và các công nghệ kỷ thuật liên quan khác, bao gồm các hệ thống nhiên liệu, hệ thống điều khiển, xử lý không khí, hệ thống lọc, hệ thống giải pháp xử lý khí thải và các hệ thống năng lượng thế hệ điện. Trụ sở chính đặt tại Columbus, bang Indiana (Hoa Kỳ). Với trên 5400 đại lý và văn phòng đại diện trên 130 nước trên thế giới.

Cấu hình tiêu chuẩn của máy phát



Phạm vi cung cấp tiêu chuẩn:


Read »

Du học có được đăng kí kết hông không ?


Chúng em hiện đang du học tại nước Anh và muốn kết hôn ở đây. Trong phần hồ sơ (mục b) phải có xác nhận tình trạng hôn nhân của chính quyền địa phương trong thời gian trước khi đi du học. Xin cho biết chúng em có thể ủy quyền cho bố mẹ đẻ hai bên đi xin giấy đó được không? Nếu được thì có phải chuẩn bị thêm giấy tờ nào đó nữa không?

Theo Điều 10 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định đăng ký và quản lý về hộ tịch: Người có yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về hộ tịch mà không có điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể ủy quyền cho người khác làm thay. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực hợp lệ.

Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền.

Khoản 2 Điều 66 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định đăng ký và quản lý về hộ tịch quy định thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau: Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian ở trong nước, thì UBND cấp xã, nơi người đó cư trú trước khi xuất cảnh, thực hiện việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Như vậy, căn cứ vào các hướng dẫn này, các bạn có thể liên lạc với bố, mẹ hai bên để xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho các bạn và gửi cho các bạn để hoàn tất thủ tục kết hôn theo luật định.
Read »

Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật

Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật

Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật được quy định và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, cụ thể như sau:

1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

Trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì biên bản xác định hành vi vi phạm phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất và được lập theo quy định sau đây:

a) Cơ quan tài nguyên và môi trường tổ chức kiểm tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại các Điểm c, d và g Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai; tổ chức thanh tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại Điểm h và Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai;

b) Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản, người được giao nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm gửi biên bản cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất để chỉ đạo thu hồi đất.

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực địa khi cần thiết, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất.

3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

a) Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

b) Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;

c) Tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 65 của Nghị định này;

d) Bố trí kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính; thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo Giấy chứng nhận không còn giá trị pháp lý đối với trường hợp người sử dụng đất không chấp hành việc nộp lại Giấy chứng nhận.
Read »

Tư vấn về thu hồi đất và mức bồi thường khi nhà nước thu hồi?

Gia đình chúng tôi và 8 hộ gia đình nữa có một khu đất mà nhà nước trước đây (thời điểm chúng tôi mua) có quy hoạch là đất thổ cư, có một số người có nhu cầu làm nhà ngay thì vẫn được cấp là đất thổ cư, còn một số người chưa có khả năng làm nhà thì vẫn để nguyên trạng là đất lúa.

Đến ngày 14/3/2014 có 11 hộ gia đình nhận được thông báo là khu đất này nhà nước sẽ lấy để làm nhà văn hóa xã. Thưa luật sư, có phải đất đai hiện nay là bất cứ khi nào nhà nước cần là có thể lấy đi hay không? khi chúng tôi mua thì phải mua với giá rất cao, còn khi nhà nước lấy thì lại chỉ trả theo đất lúa, chúng tôi thật sự rất bối rối, kính nhờ luật sư có cách nào giúp chúng tôi không bị cướp trắng trợn như vậy không? Chúng tôi xin cám ơn!


- Thứ nhất, Nhà nước chỉ thu hồi, trưng dụng đất trong những trường hợp được pháp luật quy định.


Cụ thể, Điều 16 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về các trường hợp nhà nước thu hồi, trưng dụng đất như sau:



“1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a)Thu hồi đất vìmục đích quốc phòng, an ninh;phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

b)Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

c)Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”



- Thứ hai, về bồi thường khi thu hồi đất, mức bồi thường sẽ được tính dựa trên mục đích sử dụng đất và giá cụ thể của từng loại đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Theo đó, về cơ bản, việc bồi thường được thực hiện bằngviệc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai).



Theo đó, khu đất nơi bạn sinh sống, khi bị thu hồi, tùy vào từng mảnh đất mà từng hộ gia đình sở hữu, nếu có giấy tờ chứng minh là đất ở (đất thổ cư) thì sẽ được Nhà nước bồi thường theo mức giá đất thổ cư mà pháp luật quy định, bên cạnh đó có thể được Nhà nước hỗ trợ, tái định cư cho nơi ở mới. Nếu không chứng minh được là đất ở, thì Nhà nước sẽ căn cứ vào nguyên trạng của đất là đất nông nghiệp (đất lúa) để bồi thường và hỗ trợ theo quy định của pháp luật.a
Read »

Hỏi về điều kiện cấp giấy chứng nhận do trúng đấu giá quyền sử dụng đất



Theo QĐ 299/TTg thửa đất số 10 do Ủy ban nhân dân huyện đứng tên trong sổ bộ địa chính, đến năm 1996 huyện Ủy đứng ra bán đấu giá tài sản trên đất, hộ ông A đã trúng đấu giá tài sản với số tiền 115 triệu đồng và ông A đã hoàn thành nghĩa vụ thuế trước bạ đối với tài sản trên đất, thời gian trôi qua 19 năm.

Hỏi vậy nay hộ ông A muốn xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không?. Hiện tại UBND huyện yêu cầu phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện thu tục thu hồi phần đất trên để đưa ra bán đấu giá là có đúng không?



Điều 99 Luật đất đai năm 2013 quy định, trường hợp người sử dụng đất do được trúng đấu giá quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trường hợp hộ gia đình ông A trúng giá quyền sử dụng đất từ năm 1996, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai thì được quyền làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND cấp huyện hoặc phòng đăng ký đất đai thuộc phòng tài nguyên và môi trường để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp của bạn, UBND cấp huyện chỉ được thu hồi đất khi có 1 trong các căn cứ cho thấy người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai được quy định cụ thể tại Điều 64 Luật đất đai năm 2013 như sau:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn,
chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành.

Theo đó, nếu người sử dụng đất không có hành vi vi phạm pháp luật thì việc UBND cấp huyện ra quyết định thu hồi đất để tiến hành bán đấu giá là không đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp này bạn có thể gửi đơn khiếu nại tại Chủ tịch UBNH cấp huyện để yêu cầu giải quyết, trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của UBND cấp huyện, bạn có thể gửi đơn đến UBND tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án.
Read »

Kê biên tài sản đã thế chấp khi xảy ra tranh chấp

Trước đó, gia đình tôi có dùng chứng khoán đất thế chấp ngân hàng để vay tiền với lí do để cất nhà (có kèm theo bản vẽ nhà). Mảnh đất đó trc đây là 1 cái hằm nước, ngân hàng xuống thẩm định và cho gia đình tôi vay khoản tiền có giá trị tương đương với đất.
Sau này, chúng tôi bơm cát rồi cất nhà trên diện tích đất đã thế chấp. Đến nay vì bán đất ruộng ko đc nên chúng tôi chưa thanh toán được khoản nợ. Ngân hàng kiện lên tòa án, và bắt đầu kê biên thu hồi tài sản bằng cách bán đấu giá. Nhưng điều đáng nói ở đây là ngân hàng kê giá và thu hồi luôn cái nhà mà chúng tôi đang ở. Chúng tôi kiên quyết không chịu giao nhà. Vì cho rằng:
+ Thứ nhất lúc vay tiền chúng tôi chỉ thuế chấp chứng khoán đất thôi. Còn cái nhà sau này mới cất.
+ Thứ hai: Trong văn bản thông báo thu hồi tài sản do tòa án đưa xuống ko hề đề cập đến ngôi nhà, mà chỉ ghi thu hồi diện tích đất bao nhiêu mét vuông đúng như dt ban đầu chúng tôi thuế chấp.
Giấy trắng mực đen rõ ràng. Cùng lắm chúng tôi đập bỏ hoặc di dời ngôi nhà đi chỗ khác chứ kiên quyết không giao.
Vậy trong tình huống này. Chúng tôi làm như vậy là đúng hay sai?







Căn cứ theo Điều 21 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án quy định như sau:

“ Điều 21. Xử lý tài sản gắn liền với đất khi kê biên quyền sử dụng đất
Khi kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà có tài sản gắn liền với đất thì xử lý theo quy định sau đây:
1. Trường hợp tài sản đó thuộc sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đó;”

Như vậy, trong trường hợp này, tài sản gắn liền với đất ở đây thuộc quyền sở hữu của bạn – người phải thi hành án, cho nên khi kê biên quyền sử dụng đất vẫn phải kê biên cả tài sản gắn liền với đất đó.
Read »

Không có mặt chồng thì có thể ly hôn được không


Chồng tôi bỏ nhà đi biệt tích từ 4 năm nay. Nay tôi muốn ly hôn thì Tòa án không giải quyết mà yêu cầu phải làm thủ tục đề nghị tuyên bố chồng tôi mất tích. Xin Ban biên tập cho biết, như vậy có đúng không?



Trước đây, đối với các trường hợp xin ly hôn với người mất tích, tòa án có thể giải quyết tuyên bố mất tích và ly hôn trong cùng một vụ án. Tuy nhiên kể từ 1/1/2005 (ngày Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành) trở đi thì tòa án không thụ lý và giải quyết mất tích và ly hôn trong cùng một vụ án nữa mà phải tách riêng, vì luật mới quy định đây là hai thủ tục riêng biệt.

Để ly hôn với người chồng đã bỏ đi biệt tích, chị phải làm đơn gửi đến toà án quận, huyện nơi chị đang cư trú để yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ để chứng minh chồng chị đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc chị đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Chị có thể làm đơn yêu cầu công an phường xác nhận việc này và nếu đã xóa hộ khẩu thì phải xác nhận đã xóa từ thời điểm nào để tòa án làm căn cứ tuyên bố mất tích.

Sau khi thụ lý, tòa án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người mất tích trên báo của trung ương trong 3 số liên tiếp và đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Sau 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên mà chồng chị không trở về hoặc có tin tức báo về thì tòa án sẽ họp xét đơn yêu cầu tuyên bố công dân mất tích của chị.

Sau khi có quyết định của tòa án tuyên bố chồng chị mất tích, chị mới có thể làm đơn xin ly hôn với chồng.
Read »

Làm giấy khai sinh cho con khi không có giấy đăng ký kết hôn

Tôi lấy chồng không làm giấy đăng ký kết hôn, sinh con cũng chưa làm giấy khai sinh. Nay tôi muốn làm giấy khai sinh cho cháu để cháu đi học (năm nay bé 7 tuổi). Xin Ban biên tập cho tôi hỏi, muốn làm giấy khai sinh cho cháu thì cần những thủ tục, giấy tờ gì?



Theo Điều 14 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định đăng ký và quản lý về hộ tịch: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con, nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.

Như vậy, theo quy định trên thì con của chị đã quá hạn làm giấy khai sinh. Điều 43 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định đăng ký và quản lý về hộ tịch quy định: Việc sinh chưa đăng ký trong thời hạn quy định tại Điều 14 của nghị định này, thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.

Điều 45 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định đăng ký và quản lý về hộ tịch quy định thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn gồm:

- Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định)

- Giấy kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn)

- Hộ khẩu hoặc đăng ký tạm trú của người mẹ (người thân)

- Chứng minh thư nhân dân của mẹ (người thân)

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng.

Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trong trường hợp cán bộ tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Với trường hợp của bạn thì tất cả các giấy tờ trên nộp tại cán bộ tư pháp hộ tịch xã nơi hiện nay chị đang cư ngụ.
Read »

Rạch đùi thiếu nữ vì thất tình


Vốn tự hào rằng mình là một công tử với nhiều gái theo nên khi bị nữ sinh cấp 3 chủ động chia tay, Tài nổi cơn thịnh nộ, đi rạch đùi hàng loạt thiếu nữ.



Từ cậu ấm hư hỏng...

Cha mẹ của Nguyễn Thành Tài (biệt danh Tài “hen”, SN 1983, ngụ phường 4, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh) từng khó khăn vất vả nhưng là những người lao động chăm chỉ, tiết kiệm nên có được vốn liếng nhất định rồi giàu có, khá giả, làm chủ đại lý vé số ở Tây Ninh.

Tài "hen" may mắn khi được sinh lúc gia đình đã có của ăn của để và gã nghiễm nhiên trở thành "thiếu gia" vì được bố mẹ bù đắp cho những thiếu hụt về thể trạng bên ngoài.

Chẳng là từ khi sinh ra, dù được chăm bẵm, chiều chuộng nhưng hắn cứ dặt dẹo, gầy gò, ốm yếu với nước da xanh xao, nhợt nhạt cùng giọng nói ẻo lả như con mèo hen. Chính vì thế mà Tài được mọi người đặt cho biệt danh là Tài "hen".

Thương con, bố mẹ Tài đã làm mọi thứ để chiều chuộng "cậu ấm" những mong bù đắp bằng vật chất sẽ khiến Tài được vui vẻ, mãn nguyện hơn. Gã thanh niên biết điều đó nhưng không nâng niu, quý trọng mà trở nên ngỗ ngược từ nhỏ.

Hắn dùng tiền của bố mẹ để đi gây sự chú ý, tạo tiếng tăm cho mình. Hắn vung tiền nuôi một đám choai choai ở phố để bọn chúng tôn sùng, tung hô hắn.

Hắn xài toàn hàng hiệu, mua xế hộp như mua mớ rau, chán cái này lại mua cái khác, muốn gì được nấy, bố mẹ Tài chiều hắn vô điều kiện.

Chính vì cái thói ngông nghênh của mình mà Tài đã từng bị TAND Thị xã Tây Ninh tuyên phạt 12 tháng tù treo về hành vi “bắt giữ người trái pháp luật”, “cố ý làm hư hỏng tài sản” và “cố ý gây thương tích” vào năm 2009.

... đến gã trai si tình gây sự chú ý bằng cách biến thái

Bên cạnh việc gây sự chú ý, lấy uy bằng những vật chất xa hoa, Tài còn cho nhiều đàn em choáng váng vì độ đào hoa của mình. Gã trai luôn được tung hô vì trình độ thay người yêu như thay áo. Mới hôm trước thấy Tài đi với em này nhưng sau đã có ngay "hàng mới".

Thú vui của Tài "hen" là lái xế hộp lượn lờ trước cổng các trường cấp 3 ở Tây Ninh để thăm dò xem có em nữ sinh nào xinh đẹp, cảm thấy thích là gã sẽ đặt mục tiêu tán tỉnh bằng được thì thôi.

Bằng sự quyết liệt cộng với những món quà giá trị không hề nhỏ, Tài đã đốn ngã được không ít các thiếu nữ nhẹ dạ, ham mê vật chất để rồi sau đó lại bị Tài "đá" không thương tiếc.

Hồi cuối năm 2012, công tử Tây Ninh này thích một nữ sinh lớp 12 (SN 1993) thông minh, cá tính nên đã lên kế hoạch tán tỉnh. Vốn là kẻ hiếu thắng, chưa từng nếm mùi thất bại, chỉ có Tài phụ người chứ chưa người con gái nào lại dám phụ hắn.




Với ý nghĩ biến thái của mình, Tài tin người yêu sẽ quay lại (Ảnh minh họa)

Vậy mà bất ngờ nữ sinh này nói lời chia tay sau khi nhận ra Tài chỉ là một gã công tử chơi bời, lông bông, gây gổ đánh nhau và lấy việc vung tiền của bố mẹ làm niềm vui.

Tài đột nhiên trở thành kẻ lần đầu thất tình. Hắn không chấp nhận sự thật đó, cái tôi của hắn trỗi dậy thôi thúc Tài phải rửa hận, lấy lòng lại người con gái "đá" mình. Gã công tử này đã nghĩ ra kế hoạch bệnh hoạn là rạch đùi nhiều nữ sinh để các em hoang mang.

Khi ấy, bạn gái của Tài ắt hẳn sẽ sợ hãi khi đi học rồi gã công tử nghĩ ngay đến tình huống mình trở thành "anh hùng" trong mắt nữ sinh, đưa đón bạn gái đi học an toàn.

Nghĩ là làm, để thực hiện kế hoạch, đối tượng đã đầu tư mua 2 chiếc xe máy Yamaha Luvias giống hệt nhau, một chiếc mang biển số giả và một chiếc mang biển số thật nhằm đánh lạc hướng nhận dạng của nạn nhân trong khi gây án.

Sáng sớm 7/3/2011, Tài “hen” rủ người hàng xóm tên Phạm Thanh Duy đi tìm nữ sinh để rạch quần. Chỉ trong 15 phút từ 6h30 - 6h45 cùng ngày, chúng đã 4 lần gây án.

Sáng hôm sau, Duy bận nên Tài một mình đi gây án. Đối tượng dùng tay phải điều khiển xe máy, tay trái cầm dao cắt giấy thực hiện 4 vụ rạch đùi các em nữ sinh trong buổi sáng.

Chiều cùng ngày, Duy lại chở Tài thực hiện tiếp 3 vụ khác tại khu vực các trường trung học trên địa bàn huyện Hòa Thành và Thị xã Tây Ninh. Đúng như kế hoạch, thông tin hàng loạt nữ sinh bị những kẻ biến thái tấn công rạch đùi đã khiến người dân hoang mang.

Lúc này, thấy mọi người đồn thổi nên Duy không cùng hành động nữa vì sợ bị bắt.

Từ ngày 9/3/2011 đến ngày 15/3/2011, Tài cùng Phan Ca Li và Võ Lê Hoàng Ngữ - đối tượng nghiện ma túy, có một tiền án về tội Giết người, mới ra tù tháng 10/2010 thực hiện thêm 7 vụ nữa.

Thực hiện đến 18 vụ mà chưa thấy người yêu cũ sợ hãi gì, Tài đã chỉ đạo đàn em tìm trực tiếp nữ sinh này để rạch đùi với hi vọng: “Trong lúc hoảng loạn, em ấy sẽ chấp nhận nối lại tình cảm”.

Đồng bọn giúp Tài “hen” thực hiện hàng loạt vụ rạch đùi (ảnh Q.M/Phaply.vn)

Sáng 18/3/2011, Ngữ và Ca Li đang lởn vởn ở cổng trường THPT Lý Thường Kiệt nơi người yêu cũ của Tài theo học thì bị Công an huyện Hòa Thành ập đến bắt giữ cùng hung khí. Ngay trưa hôm đó, công an bắt khẩn cấp Tài.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành Tài thản nhiên khai: “Rạch quần mấy em nữ sinh để coi quần lót và da mông, không ngờ rách da, chảy máu”.

Ngày 23/4/2013, TAND huyện Hòa Thành tuyên phạt Tài 10 năm tù, Duy 6 năm tù giam, Ngữ 4 năm 6 tháng tù và Li 1 năm 3 tháng tù, với hai tội danh: Cố ý gây thương tích và Làm nhục người khác

nguon kenh14.vn
Read »

Đăng ký kết hôn thì cơ quan nào sẽ xác nhận tình trạng độc thân


Tư vấn giúp tôi một việc, tôi đi du học ở Nhật Bản, đã bị cắt hộ khẩu, nay về nước muốn đăng ký kết hôn thì cơ quan nào sẽ xác nhận tình trạng độc thân cho tôi? Thủ tục đăng ký gồm những gì?


Theo quy định tại các Điều 17 và 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (có hiệu lực thi hành từ 1/4/2006) thì thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn quy định như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ.

- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân. Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

- Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó... Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì UBND cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
Read »

Kết án có mức phạt tù bằng thời gian tạm giữ


Trường hợp người bị kết án có mức phạt tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam và được trả tự do tại phiên toà thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm có phải ra quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị kết án hay không?


Theo quy định tại khoản 5 Điều 227, khoản 2 Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đối với trường hợp người bị kết án có mức hình phạt tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam, thì bản án, quyết định của Toà án được thi hành ngay và Hội đồng xét xử phải ra quyết định trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà. Trong trường hợp này, người bị kết án đã chấp hành xong mức hình phạt Toà án đã tuyên nên Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm không phải ra quyết định thi hành án phạt tù đối với họ. Thời hạn để xoá án tích được tính từ khi họ đã chấp hành xong hình phạt.
Read »

Chống án thì Tòa án cấp trên có thể sẽ xử nặng hơn ?


Vừa qua, cháu tôi bị TAND huyện xử phạt hai năm tù về tội cố ý gây thương tích. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị với Hội đồng xử án xử phạt cháu tôi từ 2 - 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Trong phần tranh luận trước Tòa, vị luật sư bào chữa cho cháu tôi cũng đã nêu lên hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội của cháu (cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ) và nêu các tình tiết giảm nhẹ cũng như đề nghị Tòa án xử phạt án treo. Cuối cùng, Tòa án vẫn xét xử 2 năm tù giam (cháu tôi lúc phạm tội chỉ mới 16 năm 2 tháng tuổi, lúc xét xử vừa đúng 16 tuổi rưỡi). Với tư cách là người giám hộ, tôi muốn chống án lên Tòa án cấp trên xét xử lại nhẹ hơn. Tôi nghe nói, chống án thì Tòa án cấp trên có thể sẽ xử nặng hơn (Vì ở nơi tôi cư trú cũng đã có trường hợp chống án bị xử nặng hơn), xin chỉ dẫn giùm tôi.




Theo các Điều 231 - 232 - 234 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Sau khi xét xử lần đầu (gọi là xét xử sơ thẩm) thì bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo (chống án) bản án sơ thẩm trong vòng 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Tòa án cấp trên sẽ xem xét lại bản án sơ thẩm có kháng cáo (nếu như Viện Kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm theo hướng nặng hơn; người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại không kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo...) thì Tòa án cấp phúc thẩm xét xử y án sơ thẩm hoặc giảm nhẹ hình phạt, nghĩa là không xấu hơn tình trạng của bị cáo.

- Trường hợp cụ thể của cháu bà thì tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng xét xử tuyên phạt tù giam; trong những trường hợp cụ thể này thì thông thường Viện Kiểm sát sẽ không kháng nghị theo hướng tăng nặng.

Bà có thể làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét để quyết định hình phạt nhẹ hơn cho cháu bà.
Read »

Đảng viên sinh con thứ năm bị xử lý như thế nào?

Tôi sinh con thứ năm vào ngày 11/3/2005, năm 2006 tôi đã có bản tự kiểm điểm và kiểm điểm trước chi bộ, nhưng văn bản đảng bộ gửi lên cho đến nay vẫn chưa xét kỷ luật, vậy tôi có phải chịu kỷ luật không và trường hợp của tôi trách nhiệm cá nhân và đảng ủy như thế nào?



Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Theo đó, mỗi cặp vợ chồng, cá nhân chỉ được phép sinh một hoặc hai con trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.

Theo thông tin mà anh cung cấp, chúng tôi xác định anh là Đảng viên. Trách nhiệm của Đảng viên khi vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình được quy định tại quy định 181/2013 QĐ/TW ngày 30 tháng 3 năm 2013 quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm như sau:

Điều 26. Vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình

1. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ ba (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tham gia các hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán để xác định giới tính thai nhi trái quy định.

b) Sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp phương tiện tránh thai giả, không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quá hạn sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam.

c) Khai báo hoặc xin xác nhận không trung thực về tình trạng sức khoẻ của vợ (chồng), con để thực hiện không đúng quy định hoặc để trốn tránh không bị xử lý do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

2. Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ tư (trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ).

3. Trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ năm trở lên hoặc vi phạm trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

Gian dối trong việc cho con đẻ hoặc nhận nuôi con nuôi mà thực chất là con đẻ nhằm cố tình sinh thêm con ngoài quy định.

Trường hợp của anh là sinh con thứ năm, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 26 quy định trên. Theo đó, anh sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Read »

Là giáo viên tại trường điểm, sinh con thứ ba thì có bị chuyển sang trường khác không?

Tôi là đảng viên (được 2 năm). Hiện nay, tôi vỡ kế hoạch đứa thứ ba ( gần ba tháng). Tôi đang công tác tại một trường THCS là trường điểm của thành phố có bề dày thành tích gần 20 năm qua. Để không ảnh hưởng đến thành tích của trường và của các giáo viên khác tôi có nên tự nguyện chuyển trường không? Nếu chuyển sang trường khác thì trường nào kiểm điểm tôi. Nếu không chọn phương án chuyển trường thì tôi sẽ bị xử lý như thế nào? (Về mặt Đảng và chính quyền nhà trường). Và thời gian xử lý là khi nào? Có hình thức xử lý là đẩy tôi đi trường khác xa nhà hơn không? Tôi rất hoang mang. Xin luật sư tư vấn giúp tôi.


Theo chúng tôi được biết hàng năm ngành giáo dục – đào tạo cũng tổ chức cho cán bộ, giáo viên ký cam kết không vi phạm chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, đây là căn cứ đánh giá, xếp loại thi đua đối với cá nhân và tập thể nhà trường. Vì vậy, trường hợp của bạn có thể sẽ ảnh hưởng đến thành tích của trường và của các giáo viên khác.

Như vậy, theo như chúng tôi đã phân tích như trên thì trường hợp của bạncó thể sẽ không bị xử phạt tới mức chuyển bạn đi trường khác, tuy nhiên còn phụ thuộc vào quy định của ngôi trường của bạn đã giảng dạy có quy định như thế nào về việc giáo viên vi phạm về dân số - kế hoach hóa gia đình. Nếu như trường không quy định về việc vi phạm như trên phải chuyển trường thì việc bạn muốn chuyển trường thì đó là quyết định của bạn. Sau khi bạn chuyển trường thì trường nơi bạn đang công tác hiện tại sẽ là trường xử lý hành vi vi phạm của bạn trong thời điểm hiện tại.
Read »

Xử lý kỷ luật đối với viên chức sinh con thứ ba có vi phạm pháp luật không?

Tôi là một giáo viên tiểu học vào ngành năm 1992 và đã vi phạm kế hoạch hóa gia đình là sinh con thứ 3. Năm học 2012 tôi có thai và tháng 6 năm 2013 tôi sinh cháu.Trong 2 năm đó tôi bị nhà trường xếp loại yếu và năm 2014 tôi cũng không đc nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Đến tháng 7 năm 2014 nhà trường thành lập hội đồng kỉ luật tôi và ra quyết định kỉ luật 3 tháng chậm tăng lương. Và đến năm học này 2015-2016 UBND huyện kết hợp với phòng dân số và phòng giáo dục ra quyết định kỷ luật giáo viên vi phạm đẻ con thứ 3 từ năm 2013 đến nay phải chuyển trường (năm nay mới bắt đầu thực hiên) và tôi là người bị chuyển.
Vậy tôi muốn hỏi luật sư với trường hợp của tôi như vậy tôi đã từng bị nhà trường kỷ luât và bây giờ bị kỷ luật chuyển trường có đúng không?tôi phải làm như thế nào?



Theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em có quy định:

“ Đảng viên sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Chính phủ. Thành viên của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý theo quy định của quy chế, quy định của đoàn thể, tổ chức. Người dân sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý theo quy định của hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm, cụm dân cư nơi cư trú”.

Tuy nhiên cho đến Nghị định số 176/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế có hiệu lực từ ngày 31/12/2013 và thay thế cho Nghị định số 111/2006/NĐ-CP thì không còn quy định về vấn đề xử lý kỷ luật đối với viên chức sinh con thứ ba.
Đồng thời tại Điều 96, Nghị định này quy định về điều khoản chuyển tiếp cũng có quy định:

“Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm”.

Theo như nội dung bạn đã trình bày thì bạn sinh con thứ 3 vào tháng 6/2013, và cho đến tận ngày tháng 7/2014 nhà trường mới tiến hành xem xét, kỷ luật đối với bạn. Điều này có nghĩa là bạn bị kỷ luật khi Nghị định 176/2013 đã có hiệu lực. Căn cứ theo quy định tại điều 96 của nghị định này thì phù hợp với nguyên tắc có lợi cho người vi phạm bạn sẽ không bị kỷ luật nữa.

Ngoài ra, một trong các nguyên tắc cơ bản của chính sách pháp luật Việt Nam là đối với một hành vi vi phạm thì chỉ bị xử lý một lần. Như bạn đã trình bày, bạn đã bị kỷ luật đối với hành vi này vào năm 2014 thì sẽ không bị kỷ luật với hành vi này nữa.

Do đó, trong trường hơp này bạn có quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật viên chức theo quy định tại chương 4, Luật khiếu nại năm 2013. Đơn khiếu nại lần đầu sẽ được gửi đến người ra quyết định kỷ luật xem xét lại quyết định kỷ luật đó.
Read »

Giữ bằng gốc của người lao động bị phạt bao nhiêu?

Người sử dụng lao động giữ bằng gốc của người lao động khi tuyển dụng bị phạt thế nào?




Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ- CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nếu giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động khi giao kết hợp đồng.
Read »

Điều kiện và thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hà Nội

Tôi hiện đang là sinh viên năm thứ 3 tại Học viện Tài chính (Đức Thắng – Bắc Từ Liêm – Hà Nội). Bố mẹ tôi (hộ khẩu thường trú tại Vĩnh Phúc) có mua 1 căn hộ tại KĐT Cổ Nhuế - quận Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội. Gia đình tôi đã nhận bàn giao và tôi đã chuyển đến sống ở căn hộ từ tháng 3 năm 2014, tôi đã đăng ký tạm trú với ban quản lý cũng từ thời gian đó. Đến nay gia đình tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất từ tháng 1 năm 2015. Vậy tôi có đủ điều kiện để đăng ký thường trú tại quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội hay không? Nếu đủ điều kiện thì thủ tục và hồ sơ đăng ký cần những gì? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!




Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 20 Luật Cư trú, công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương:

"1. Có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;
2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con”...

Như vậy đối chiếu với quy định trên bạn được đăng ký thường trú - nhập khẩu cho bạn ở Hà Nội theo trường hợp 1.

Thứ hai, về thủ tục đăng ký thường trú, căn cứ Điều 21 Luật Cư trú và Điều 6 Thông tư 52/2010/TT-BCA ngày 30 tháng 11 năm 2010 “quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 và Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú”; việc đăng ký thường trú cho anh được thực hiện như sau:

- Nơi thực hiện thủ tục đăng ký thường trú: Cơ quan công an quận, huyện, thị xã.

- Hồ sơ đăng ký:

+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

+ Bản khai nhân khẩu;

+ Giấy chuyển hộ khẩu (Do trưởng công an cấp huyện nơi anh có hộ khẩu thường trú trước khi làm thủ tục đăng ký thường trú tại Hà Nội);

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP, trừ trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình (bạn được vợ bạn không cần giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp)

Khi đã có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ cần thiết thì bạn có thể làm thủ tục đăng ký thường trú tại Hà Nội theo trình tự, thủ tục dưới đây:

a. Làm thủ tục đề nghị cấp giấy chuyển khẩu (Điều 8 Thông tư số 52/2010/TT-BCA ngày 30/11/2010 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 107/2007/NĐ-CP và Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú).

- Trường hợp của bạn thuộc trường hợp chuyển đi ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã của thành phố trực thuộc trung ương; thị xã, thành phố thuộc tỉnh nên làm thủ tục cấp giấy chuyển hộ khẩu.

Căn cứ quy định trên bạn có thể nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại Công an huyện, quận, thị xã của Hà Nội.
Read »

Văn bản bằng tiếng nước ngoài có phải dịch trước khi chứng thực bản sao?



Vừa rồi tôi đi chứng thực bản sao một hợp đồng bằng tiếng nước ngoài. Người thực hiện chứng thực đã yêu cầu tôi phải có bản dịch của hợp đồng này, có chứng thực chữ ký người dịch. Tuy nhiên, theo tôi được biết thì Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không quy định phải dịch sang tiếng Việt đối với bản sao giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài trước khi thực hiện chứng thực bản sao. Việc người thực hiện chứng thực yêu cầu phải dịch bản hợp đồng này sang tiếng Việt trước khi chứng thực bản sao có phù hợp quy định của pháp luật không?




Để đảm bảo chất lượng của bản sao được chứng thực, Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã quy định: “Người thực hiện chứng thực phải kiểm tra tính hợp pháp của bản chính,…”.

Ngoài ra, Điều 16 của Nghị định này quy định các trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính, trong đó có các trường hợp là: “1. Bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo; ... 3. Bản chính không được phép phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật”. 
Như vậy, căn cứ quy định này, người thực hiện chứng thực phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp và một số điều kiện của bản chính. Đối với giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt thì người thực hiện chứng thực có thể kiểm tra các điều kiện này, nhưng đối với giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài thì việc kiểm tra sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, tuy Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không quy định việc dịch giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài sang tiếng Việt trước khi thực hiện chứng thực bản sao, nhưng người thực hiện chứng thực vẫn có thể yêu cầu dịch để đảm bảo an toàn cho hoạt động chứng thực bản sao từ bản chính.
Read »

Chia sẻ các tin tức hàng ngày .Về các ngôi sao , ẩm thực kinh nghiệm đi du lịch , tâm sự chị em

Copyright © 2015 TÌM KIẾM TIN TỨC

Designed by | Distributed By Tìm Kiếm Tin Tức|MÓN MẶN|MÓN NGỌT| KINH NGHIỆM| CÁC LOẠI MỨT TẾT| LÀM ĐẸP| TÂM SỰ|

/* */